THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ

THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ

THI VÂN YÊN TỬ

SỚM CHIỀU DU NGOẠN CÙNG MÂY NÚI
HOA TRÁI QUA NGÀY TA VỚI TA

Hiển thị các bài đăng có nhãn THI SĨ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn THI SĨ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 19 tháng 3, 2010

Về bài thơ "Màu tím hoa sim"

Người thành cổ Quảng trị
Bản gốc chính xác của Màu tím hoa sim?
Báo Tuổi Trẻ có bài viết về việc Công ty Vitek VTB mua tác quyền bài thơ Màu tím hoa sim của nhà thơ Hữu Loan và đăng văn bản bài thơ này. Nhiều bạn đọc đã hỏi về nhiều điểm khác nhau giữa các dị bản của bài thơ và đề nghị tòa soạn tìm hiểu bản gốc chính xác.
Bạn đọc truongvc@... đề cập đến chi tiết “thời chiến binh” (văn bản đăng trên Tuổi Trẻ) hay “thời chiến chinh”. Sau khi xem lại bản chép tay có chữ ký của nhà thơ Hữu Loan (ngày 12-10-2004) lẫn dấu đăng ký của Cục Tác quyền (ngày 19-10-2004) do Công ty Vitek VTB cung cấp, chúng tôi xin xác nhận chi tiết này chính xác là “thời chiến chinh”.
Một chi tiết khác từ bấy lâu cũng được rất nhiều người quan tâm nhưng không rõ chính xác là ở câu “chiều hoang tím có chiều hoang biết” hay “...chiều hoang biếc”? Bản chép tay gốc của tác giả cho kết luận chính xác là “chiều hoang biết”. Tương tự, anh Quang Hưng (quốc lộ 13, Thủ Đức) nêu ra chi tiết “ngợ ngàng nhìn ảnh chị” và “ngỡ ngàng nhìn ảnh chị” cái nào đúng, bản gốc chính xác là “Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị”.
Bạn đọc DinhChau (ndvchau@...) phát hiện có nhiều bản dị biệt khác nhau ở đoạn cuối bài thơ từ “chiều hành quân...” đến “... chiều hoang biền biệt”. Văn bản gốc ghi như sau: “Chiều hành quân qua những đồi hoa sim, những đồi hoa sim, những đồi hoa sim dài trong chiều không hết. Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt” (đúng như văn bản đăng trên Tuổi Trẻ).
Tuy nhiên, còn hai chi tiết chưa chính xác trong văn bản đăng trên Tuổi Trẻ do lỗi từ bản đánh máy của Công ty Vitek mà ngày hôm qua 12-12, ông Lê Văn Chính - giám đốc Vitek - đã thông báo và nhờ đính chính.
Đó là: “Khi tóc nàng xanh xanh” thay vì “Khi tóc nàng đang xanh”; và “Nhỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ” thay vì “Lỡ khi mình không về...”. Ngoài ra ông Chính cũng xác định quê gốc và cũng là nơi ở hiện nay (đã đối chiếu với sổ hộ khẩu và chứng minh nhân dân) của nhà thơ là thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Như vậy sau hơn nửa thế kỷ tồn tại và được đông đảo người yêu mến, truyền tụng (đặc biệt là những bản trên mạng Internet hay sao lại từ bản nhạc phổ thơ), bài thơ Màu tím hoa sim đã có nhiều chi tiết, từ ngữ dị biệt. Việc bài thơ vừa được mua tác quyền cũng là dịp để chúng ta xác định lại chính xác tất cả theo văn bản gốc từ tác giả.
TR.N

Tác quyền Màu tím hoa sim: 100 triệu đồng

TT - Mới đây, việc nhà thơ Hữu Loan ở tuổi gần 90 bất ngờ nhận được 100 triệu đồng tiền tác quyền cho bài thơ nổi tiếng Màu tím hoa sim từ Công ty điện tử Vitek VTB được coi là một sự kiện.
Từ trước tới nay chưa có bài thơ nào được mua tác quyền với giá cao đến thế. Tuổi Trẻ đã đi tìm câu trả lời từ ông Lê Văn Chính, giám đốc Công ty Vitek VTB.
* Điều mà nhiều người thấy lạ: vì sao một doanh nghiệp lại đi mua bản quyền thơ?
Nhà thơ Hữu Loan tên thật Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916. Quê gốc của ông - cũng là nơi ông đang ở hiện nay - là huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông tham gia Việt Minh từ trước Cách mạng Tháng Tám.
Hữu Loan làm thơ không nhiều nhưng ông có những bài được nhiều người thuộc, ghi lại tâm tư của con người trong thời kháng chiến như Màu tím hoa sim, Đèo Cả, Những làng đi qua...
Màu tím hoa sim viết cách đây hơn nửa thế kỷ, là những cảm xúc tức thời sau một biến cố sâu sắc xảy ra trong đời ông. Thời kháng chiến, ông kết hôn với người vợ trẻ xinh đẹp vốn là học trò cũ. Hai người sống với nhau chỉ hai tuần rồi ông phải trở về đơn vị. Ba tháng sau, ông nhận được tin vợ mất vì bị nước cuốn. Lúc ấy vợ ông mới 16 tuổi...
- Tôi muốn dùng từ “chuyển nhượng” thay cho từ mua bản quyền. Đây là một hình thức thể hiện sự trân trọng của một doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm văn hóa với một tác phẩm nghệ thuật. Dĩ nhiên là việc chuyển nhượng này còn nhằm mục đích kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp tham gia các sự kiện văn hóa - thể thao với mục đích phát triển thương hiệu.
Nhưng với các doanh nghiệp điện tử tại VN thì hầu hết là doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, họ có thiệt thòi là không biết tiếng Việt nên không hiểu được người VN thích gì, rung động trước cái gì. Họ chỉ nhận biết những gì hữu hình như người mẫu nổi tiếng, ca sĩ hát hay, một siêu sao bóng đá và đầu tư cho những đối tượng này.
Tuy nhiên, giọng hát, nhan sắc hay đôi chân cầu thủ không phải là những giá trị lâu dài. Vitek là doanh nghiệp trong nước, cảm nhận được những giá trị vô hình chính là lợi thế cạnh tranh của chúng tôi. Thơ là sự lắng đọng, khêu gợi sự rung cảm. Lý do chúng tôi chọn mua tác quyền bài thơ là như vậy.
* Thưa ông, tại sao lại là Màu tím hoa sim mà không phải một tác phẩm nào khác?
- Trong thế kỷ trước, dấu ấn đậm nhất của thế giới về VN là chiến tranh cách mạng. Có rất nhiều bài thơ viết về chiến tranh, nhưng theo chúng tôi, Màu tím hoa sim là bài thơ nhiều giá trị. Chiến tranh luôn kéo theo mất mát, đau khổ.
Trong những năm 1950 người ta cần nhiều bài thơ hô hào, những tiếng xung phong. Nhưng khi chiến tranh đã đi qua, người ta cần nhìn về nó với cái nhìn nhân bản hơn. Nỗi khổ mà chiến tranh gây ra không phải là nỗi khổ của người lính ra chiến trận mà là sự chờ đợi của những người phụ nữ ở nhà, không biết khi nào chồng, cha, anh, em mình mới trở về.
Một khi bài thơ này dịch ra tiếng Anh và đem ra với thế giới, người nước ngoài sẽ có một ấn tượng khác hơn về một VN trong chiến tranh - thổn thức và lắng đọng hơn. Bài thơ là tiếng thở dài, tiếng khóc của một người lính khóc vợ. Người vợ của anh chết trẻ, do lỗi gián tiếp thuộc về chiến tranh.
Ông Lê Văn Chính, giám đốc Công ty Vitek VTB
* Bài thơ này sẽ được sử dụng như thế nào?
- Chúng tôi đưa bài thơ đã được diễn ngâm vào một sản phẩm của chúng tôi. Bài thơ sẽ như một dấu ấn văn hóa của một sản phẩm VN, đi cùng sản phẩm này ra thị trường trong và ngoài nước. Trong tương lai, chúng tôi có dự định mua tác quyền của những tác phẩm khác nữa, tổ chức các hoạt động văn hóa như thi ca khúc, thi thơ, thành lập quĩ phát triển văn hóa để bày tỏ sự trân trọng, biết ơn của mình đối với những tác phẩm nghệ thuật.
Đây cũng là một hình thức bảo vệ sản phẩm văn hóa. Cụ thể, chúng tôi sẽ lưu giữ và phổ biến bản chuẩn nhất để tránh tình trạng có rất nhiều dị bản của cùng một tác phẩm có thể sẽ khiến tác phẩm bị mai một.
* Kéo theo việc mua tác quyền bài thơ Màu tím hoa sim sẽ là một loạt hoạt động liên quan, chẳng hạn như một đơn vị, cá nhân nào đó sẽ xin phép dùng bài thơ để phổ nhạc, diễn ngâm hoặc xuất bản... Vitek sẽ xử lý những việc này như thế nào?
- Tiền tác quyền thu được từ việc sử dụng bài thơ sẽ được chuyển vào quĩ phát triển văn hóa của chúng tôi.
* Xin cảm ơn ông.
LÊ THƯƠNG thực hiện

Nhà thơ Hữu Loan: "Thơ tôi, dấu ấn đời tôi"

Người thành cổ Quảng trị

Hơn một năm sau ngày Hữu Loan chuyển nhượng quyền sử dụng bài thơ Màu tím hoa sim cho Công ty điện tử Vitek, tôi quay lại thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn (Thanh Hoá) và có cuộc trò chuyện với lão nhà thơ vừa bước sang tuổi 87.

Cuộc đời ông trải qua quá nhiều thăng trầm. Tham gia khởi nghĩa giành chính quyền, là Ủy viên Thông tin tuyên truyền của Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hoá, sau đó về công tác tại Hội Nhà văn Việt Nam... Nhưng rồi sau thời kỳ "nhân văn giai phẩm", ông đã về sống ẩn đến tận bây giờ.
Nhà thơ Hữu Loan cho biết, kể từ sau ngày "bán" bài thơ Màu tím hoa sim (100 triệu đồng) đến nay đã có một số tổ chức, cá nhân khác ở trong và ngoài nước đến đặt vấn đề muốn được khai thác toàn bộ những tác phẩm thi ca do ông sáng tác. Song ông không đồng ý bởi nhiều lý do.
Cái lý do cơ bản nhất là: "Thơ tôi làm ra không phải để bán. Tôi làm thơ chủ yếu là để phục vụ cho phong trào cách mạng đấu tranh chống giặc ngoại xâm của quân và dân ta. Để ca ngợi tình con người với con người và để chép lại những câu thiên tình sử đẹp nhất mà tôi đã gặp, đã chứng kiến. Những bài thơ đó, giờ nó đã trở thành tài sản chung của mọi người rồi". Ông cũng cho biết, những bài thơ do ông sáng tác đến giờ phút này đã bị thất lạc rất nhiều, do ông không có thói quen ghi chép và lưu trữ.
Tuy nhiên, những tác phẩm thi ca của nhà thơ Hữu Loan khó có thể lẫn đi đâu được vì nó có một bút pháp riêng, tạo nên một phong cách đặc biệt, mà Tình thủ đô của ông do Dương Tường và Mạc Lân nhớ lại vào cuối năm 2004 là một ví dụ rất cụ thể. Hiện Hữu Loan đã giao toàn quyền việc sưu tầm, lưu trữ các tác phẩm thơ do ông sáng tác cho người con trai thứ 8.
Đó là anh Nguyễn Hữu Đán - cán bộ Cty Tu bổ di tích và Thiết bị văn hoá trung ương thuộc Bộ VH-TT. Anh Đán cho hay, đến nay anh đã "tìm thấy" được cả thảy 60 bài thơ của ông sáng tác. Có những bài anh chỉ sưu tầm được 4-5 câu, nhưng cũng có những "trường ca" dài tới 60 trang.
Anh Đán cho biết việc sưu tầm tuy rất khó khăn, nhưng vì trân trọng những giá trị trong thơ, đã có những người tự mang thơ đến đưa lại ông sau nhiều năm thất lạc. Mới đây nhất, bà Nguyễn Thị Thanh ở đường Trần Hưng Đạo (Hà Nội) đã gửi lại cho nhà thơ Hữu Loan một bài thơ vô đề.
Bài thơ ca ngợi những y, bác sĩ đã hết lòng chăm sóc cho các thương binh trở về sau trận chiến chống lại kẻ thù xâm lược bảo vệ tổ quốc. Bài thơ có đoạn. "... Áo quần loang bết mủ/ Vết thương nhày hôi tanh/ Em đem về giặt giũ/ Chong đèn vá thâu canh/ Mai những người vui được áo lành...". Vào một thời điểm nào đó thích hợp anh Nguyễn Hữu Đán sẽ cho ra mắt Toàn tập Hữu Loan.
* Chắc bác vẫn còn nhớ cảm xúc của mình khi viết nên bài Màu tím hoa sim được nhiều người coi là một "kiệt tác" của thi ca VN thế kỷ 20?
- Làm sao tôi có thể quên được điều đó. Màu tím hoa sim là màu tang thương của một tình yêu định mệnh, tình vợ chồng ngắn ngủi mà giờ đây nó chỉ còn lại trong ký ức của riêng tôi. Đó là một mối tình ly kỳ nhất và tôi là người may mắn nhất được tạo hoá ban tặng. Ngày tôi đặt chân đến gia đình ông Lê Đỗ Kỳ (sau này là nhạc phụ) làm gia sư cho ba người con trai của ông, cũng là ngày vợ ông ấy sinh hạ một bé gái xinh xắn.
Nhưng có một điều khác thường ở chỗ là cô bé không cất tiếng khóc chào đời như mọi đứa trẻ khác. Gia đình họ mang cô bé đặt lên trên nắp một cái thùng phuy để cầu nguyện một điều gì đó, tôi tò mò lại ngắm nhìn thì cô bé nhoẻn miệng cười với tôi. Lớn lên, tôi đi đâu cô bé ấy cũng đòi đi theo.
Và còn một điều kỳ lạ nữa là khi tôi quay trở lại làm gia sư dạy học cho chính cô bé sau này là vợ mình, nhà ông tham Kỳ lúc nào cũng có vài ba mươi người ăn, kẻ ở hầu hạ thế nhưng cô ta luôn giữ vali và không cho bất kỳ ai giặt quần áo của tôi, mà tự tay cô ấy giặt, là lấy rồi gấp xếp vào vali cho tôi.
Cô bé càng lớn càng đẹp, một vẻ đẹp thánh thiện. Chúng tôi cưới nhau ngày 16-2-1949 thì đến ngày 29-5 cùng năm đó, vợ tôi tên là Lê Đỗ Ninh mất do chết đuối, khi tôi đang hoạt động cách mạng ở Nưa (huyện Triệu Sơn, Thanh Hoá). Đau thương này kéo dài lắm. Và cũng chính vì lẽ đó nên sau khi cô ấy mất, tôi có ý định không lấy vợ nữa. Mỗi lần nhớ tới cô ấy là tôi lại "khóc" ra một quãng của bài thơ Màu tím hoa sim hoàn chỉnh bây giờ.
* Nhưng rồi định mệnh lại dắt bác đến với một người phụ nữ khác, sống cùng bác đến ngày hôm nay và đã sinh cho bác tới 10 người con.
- Người vợ thứ hai là bà Phạm Thị Nhu, sống với tôi hơn 50 năm rồi. Bà ấy cũng là một người phụ nữ sâu sắc. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé vào mỗi buổi chiều lại lén lút đứng bên ngoài song cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Khi gặp nhau, cô bé ấy mới nói vì đi nghe tôi giảng Kiều nên nhiều hôm để trâu ăn lúa, nên bị bắt phạt. Thì ra cô ta cũng là người có tâm hồn. Khiến tôi vẫn phải suy nghĩ rất nhiều mới có quyết định này. Rất may là sự quyết định của tôi đã không nhầm.
* Với bác, điều tâm đắc nhất trong những tác phẩm của mình là gì, có thể định nghĩa được không?
- Trong thơ tôi có niềm khát khao cháy bỏng cho một đất nước được tự do, cho dân tộc được giải phóng khỏi ách đô hộ, đó là niềm lớn nhất. Còn nhớ, ngày đó có một viên trung tướng phục vụ cho thực dân Pháp được giao nhiệm vụ theo dõi để ám sát tôi. Vì lý do gì thì tôi không biết, nhưng ông ấy đã tìm gặp và nói với tôi rằng, khi ông ta đọc xong bài thơ Yên Mô thì ông ấy đã từ bỏ ý định ám sát tôi. Ông ấy rất yêu bài thơ Yên Mô của tôi viết về quê hương ông.
Viên trung tướng nói, mỗi một lúc ông nhớ quê là lại đọc bài thơ Yên Mô. Mỗi lúc định giết tôi, viên tướng lại nhớ đến quê mình nên lại thôi. Nhà nghiên cứu và phê bình văn học Đặng Thai Mai cũng đã từng nói rằng, ông rất thích câu thơ cuối cùng trong bài Yên Mô: "Canh làng du kích Yên Mô/ Nửa đêm trăng mọc đỏ như cháy đồi".
Ông Đặng Thai Mai nhận xét rằng, câu thơ đã đốt cháy rực cả bài thơ lên. Nửa đêm trăng mọc, nhưng người ta cứ tưởng là du kích đánh cháy đồn địch. Cái sức sống mạnh mẽ trong mỗi tác phẩm thi ca là ở chỗ phải ghi được dấu ấn trong một thời khắc đặc biệt.
Bài thơ Tình thủ đô cũng là một minh chứng xác thực cho niềm tâm đắc mà tôi vừa nói ở trên. Vào những năm 50 của thế kỷ trước, đất nước ta gặp rất nhiều khó khăn trước kẻ thù xâm lược là thực dân Pháp. Một bộ phận trí thức chán nản, muốn quay lại nội thành Hà Nội. Nhưng bài thơ Tình thủ đô đã kêu gọi được tầng lớp trí thức là giáo viên, bác sĩ vững tin ở lại với kháng chiến, phục vụ cho kháng chiến.
* Cháu xin tò mò một chút! Khoản tiền 100 triệu đồng thu về từ việc "bán" bài thơ Màu tím hoa sim đến nay bác sử dụng thế nào rồi?
- Sự thật tôi không có ý định "bán" Màu tím hoa sim, nhưng thấy họ giải thích thuyết phục nên mới xuôi lòng. Khoản tiền 100 triệu đồng, trừ thuế còn 90 triệu, chia "lộc" cho 10 người con hết 60 triệu đồng. Tôi giữ lại 30 triệu, phòng ốm đau lúc tuổi già.
- Xin cảm ơn bác và chúc bác một năm mới dồi dào sức khoẻ!
Theo Lao Động

Nhà thơ Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 14-6-1919 tại làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa. Ông đỗ tú tài Tây sau đó đi dạy học, tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở huyện Nga Sơn. Khi cách mạng thành công, Hữu Loan giữ chức Ủy viên Thông tin tuyên truyền trong Uỷ ban lâm thời của chính quyền tỉnh Thanh Hoá.
Hữu Loan nổi tiếng với nhiều bài thơ tình lãng mạn như: Màu tím hoa sim, Tình thủ đô, Hoa lúa, Yên Mô... Các tác phẩm thi ca của Hữu Loan bị thất lạc hiện đang được người con trai út Nguyễn Hữu Đán sưu tầm và lưu giữ. Tuy nhiên đến thời điểm này nhà thơ Hữu Loan vẫn chưa cho ra mắt bạn đọc một tập thơ nào. Ông sống trong một ngôi nhà nhỏ tại quê hương, các con của ông đã trưởng thành và có cuộc sống tương đối ổn định.
Ông đã từng trải qua những năm tháng rất cơ cực, ông đi thồ đá vợ tráng bánh bèo nuôi các con ăn học. Song cho đến bây giờ như ông nói: "Tôi đã được trả lại tất cả rồi. Hiện tôi đang sống bằng một khoản tiền 400 nghìn đồng do Hội Nhà văn Việt Nam trả hàng tháng".

Thi sĩ Màu tím hoa sim qua đời

Người thành cổ Quảng trị

- Sáng nay 19-3, nguồn tin từ huyện Nga Sơn (tỉnh Thanh Hóa) cho biết thi sĩ Hữu Loan - tác giả bài thơ nổi tiếng Màu tím hoa sim - đã qua đời tại nhà riêng ở thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh (huyện Nga Sơn) vào lúc 19g ngày 18-3 (tức ngày 3 tháng 2 năm Canh Dần), hưởng thọ 95 tuổi.
Nhà thơ Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 tại thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh. Ông đỗ tú tài năm 1943, từng đi dạy học, tham gia Mặt trận bình dân, tham gia Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa (nay là TP Thanh Hóa).

Năm 1943, ông về quê gầy dựng phong trào Việt Minh. Khi Cách mạng tháng Tám diễn ra, ông làm phó chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn. Trước năm 1945, ông đã từng là cộng tác viên trên các tập san Văn học, xuất bản tại Hà Nội.
Sau Cách mạng tháng Tám, ông được cử làm Ủy viên văn hóa trong Ủy ban hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: giáo dục, thông tin, thương chính và công chính.
Bước sang cuộc kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tham gia quân đội nhân dân Việt Nam, phục vụ trong Đại đoàn 304. Sau năm 1954, ông có thời gian làm việc tại báo Văn nghệ (Hội nhà văn VN). Sau đó, ông về sinh sống tại quê nhà đến khi qua đời.
Nói đến gia tài thơ của thi sĩ Hữu Loan, người yêu thơ nhớ đến bài thơ Đèo cả mở đầu sự nghiệp thi ca của ông, đã vang danh khắp chiến trường kháng chiến chống Pháp.
Sau đó, khi người vợ đầu tiên của ông là bà Lê Đỗ Thị Ninh mất tại quê nhà (năm 1949), thi sĩ nghe tin dữ khi đang trên đường hành quân khiến ông đã viết lên những vần thơ bất hủ Màu tím hoa sim đi sâu vào lòng người đọc cho đến tận bây giờ.
Bài thơ này đã được Công ty cổ phần điện tử Tân Bình (VTB Viettronics Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) mua bản quyền với giá 100 triệu đồng vào năm 2004.
Nhà thơ Hữu Loan và vợ - bà Phạm Thị Nhu năm 2009 - Ảnh tư liệu
Được biết, gần hai năm qua, thi sĩ Hữu Loan bị bệnh thấp khớp nặng. Dù được gia đình và các thầy thuốc chăm sóc chu đáo, tận tình, nhưng do tuổi cao, sức yếu, thi sĩ đã ra đi ở tuổi 95.
Lễ phát tang diễn ra lúc 1 giờ 30 phút sáng nay 19-3, lễ an táng diễn ra lúc 15 giờ 30 phút tại nghĩa trang quê nhà.
Sáng 19-3, đoàn cán bộ của huyện Nga Sơn và nhiều đoàn cán bộ trong, ngoài tỉnh đã đến viếng thi sĩ Hữu Loan.
HÀ ĐỒNG
Màu tím hoa sim là một bài thơ rất nổi tiếng của nhà thơ Hữu Loan, được sáng tác năm 1949 tại Thanh Hoá, vào thời điểm được cho là sau khi người vợ đầu tiên của tác giả qua đời.
Bài thơ xuất hiện đầu tiên trên tờ Trăm Hoa của Nguyễn Bính và cũng được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc thành những bài hát nổi tiếng.
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê...
Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...
Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu...
Hữu Loan
(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)
Theo Thi Viện