THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ

THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ

THI VÂN YÊN TỬ

SỚM CHIỀU DU NGOẠN CÙNG MÂY NÚI
HOA TRÁI QUA NGÀY TA VỚI TA

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 3 năm 2015

81 ngày đêm rực lửa tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972

Người thành cổ Quảng trị


QĐND - Qua các cuộc chiến tranh vệ quốc, cùng với biết bao vùng đất quả cảm, kiên cường của đất nước, tỉnh Quảng Trị huyền thoại là minh chứng hùng hồn cho đỉnh cao khí phách và trí tuệ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Bắt đầu từ trưa ngày 30-3-1972, sau hai cuộc tiến công bất ngờ và quả cảm, với binh chủng hợp đồng quy mô lớn của quân ta, ngày 2-5-1972, thị xã Quảng Trị được giải phóng, sau 18 năm, bị Mỹ-ngụy chiếm đóng. Trong chiến dịch này, ta đã đánh tan tập đoàn phòng ngự mạnh nhất của địch ở Quảng Trị. Hơn ba vạn quân giặc bị loại khỏi vòng chiến đấu; 178 máy bay, 11 tàu chiến, 320 xe tăng, 237 khẩu đại bác và nhiều vũ khí đạn dược của địch bị phá hủy hoặc lọt vào tay Quân giải phóng.
Sau những giờ phút hoàn hồn, để lấy lại tinh thần và nhằm gây sức ép với ta tại Hội nghị Pa-ri, họp lại vào ngày 13-7-1972, đã nhiều lần trì hoãn, địch dốc toàn bộ lực lượng, mở cuộc phản kích, tái chiếm Quảng Trị, mà mục tiêu số 1 là chiếm lại tòa Thành cổ. Chúng gọi tên cuộc hành quân này là “Lam Sơn 72” và bắt đầu từ ngày 28-6-1972.
Địch huy động máy bay phản lực, bình quân mỗi ngày 150-170 lần (có ngày 220 lần), 70-90 lần chiếc B-52; 12-16 tàu khu trục hạm và tuần dương hạm, thuộc Hạm đội 7; 2 sư đoàn dự bị chiến lược là sư dù và sư thủy quân lục chiến, một liên đoàn biệt động, 4 trung đoàn thiết giáp (mỗi trung đoàn có 79 xe tăng và xe bọc thép), cùng hàng chục tiểu đoàn khác.
Đây là cuộc hành quân cực kỳ tàn bạo mà kẻ thù không từ một hành động tội ác nào: Ném đủ các loại bom bi, bom 7 tấn, bom điều khiểu bằng la-de; bắn đủ các loại pháo chụp, pháo khoan; thả chất độc hóa học, hơi độc và hơi ngạt... Số bom đạn chúng ném xuống đây khoảng 328 nghìn tấn, tương đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống hai thành phố Hi-rô-si-ma và Na-ga-sa-ki (Nhật Bản), năm 1945.
Thanh niên, sinh viên nhập ngũ vào chiến đấu tại mặt trận Quảng Trị năm 1972. Ảnh tư liệu.
Trong lịch sử chiến tranh thế giới, chưa hề có một cuộc hành quân nào mà mục tiêu chủ yếu chỉ đánh vào một tòa Thành cổ, có chu vi 2.080m, rộng chưa đầy 3km2, khiến đối phương có thể huy động một lực lượng hải, lục, không quân đông và sử dụng một khối lượng chất nổ khổng lồ như vậy.
Chính trong chiến dịch phản kích mang tính hủy diệt đó của kẻ thù, Thành cổ Quảng Trị đã mở đầu trang sử vô cùng oanh liệt, hào hùng bằng cuộc chiến đấu cực kỳ gian khổ, hiểm nguy và dũng cảm qua 81 ngày đêm mùa hè rực lửa, rung chuyển cả nước và toàn cầu từ ngày 28-6-1972 đến ngày 16-9-1972.
Lực lượng ta ở vòng trong thị xã, lúc đầu có Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B và hai tiểu đoàn bộ đội địa phương. Khi cao điểm, có thêm Trung đoàn 95, Sư đoàn 325 và Tiểu đoàn 8 của Trung đoàn 64. Chỉ huy sở của Mặt trận thị xã đặt tại hầm trong dinh Tỉnh trưởng ngụy, bên bờ sông Thạch Hãn. Lực lượng vòng ngoài có Sư đoàn 320B ở cánh Đông, Sư 308 ở cánh Nam, cùng các đơn vị xe tăng, pháo cao xạ và lực lượng du kích các xã phụ cận. Các chốt quan trọng như: Long Quang, nhà thờ Trí Bưu, ngã ba Long Hưng, trường Bồ Đề, ngã ba Cầu Ga... là những nơi, quân ta bất chấp mọi nguy hiểm, gian khổ, hy sinh, kiên quyết đập tan các đợt phản kích của địch. Đặc biệt, trong Thành cổ Quảng Trị, là tiêu điểm ác liệt nhất và cũng là nơi thể hiện tinh thần chiến đấu phi thường, huyền thoại, cực kỳ dũng cảm, hy sinh của quân dân ta. Tại đây, trung bình, một chiến sĩ phải hứng chịu hơn 100 quả bom và 200 quả đạn pháo. Có ngày như ngày 25-7-1972, kẻ thù bắn vào Thành Cổ 5.000 quả đạn. Bốn dãy tường thành ở bốn phía đông, tây, nam, bắc, dày 12m, đều bị vỡ dần; đến một viên gạch nơi đây cũng không còn nguyên vẹn.
Cuộc chiến đấu ở đây diễn ra như một huyền thoại. Và cách đánh địch nhiều khi cũng vượt ra khỏi những quy ước thông thường: Súng cối 60mm, được các chiến sĩ kẹp nách, bắn ứng dụng liên tục mấy chục quả một lần; lựu đạn sau khi rút chốt, phải tính toán sao cho khi nó vừa bay tới mục tiêu là nổ. Có lúc, chiến sĩ bò sát miệng hầm của địch rồi mới tung lựu đạn vào. Trong một trận đánh, có chiến sĩ bắn tới 14 quả đạn B40, diệt 32 tên địch. Tại mặt trận, nhiều chiến sĩ bị thương một, hai, thậm chí ba lần, vẫn chiến đấu, không chịu về tuyến sau. Các chiến sĩ bộ binh, công binh, quân y, thông tin, đều cầm súng đánh địch. Bằng tính kỷ luật tuyệt vời, tinh thần dũng cảm, ý chí ngoan cường và sự hy sinh vô bờ, ai nấy kiên quyết giữ vững trận địa trong suốt 81 ngày đêm. Đó là 81 ngày đêm lịch sử bi tráng, ác liệt, hào hùng, đầy hy sinh và mãi mãi bất tử.
Đại đội 1, Tiểu đoàn 25 vận tải, Sư đoàn 320B nhận thấy, nếu chỉ dùng sức người mang vác vũ khí vào thị xã và dùng võng cáng thương binh ra, với quãng đường dài hàng chục cây số, dưới làn bom đạn của máy bay, pháo mặt đất và pháo hạm của địch thì khá vất vả, hiểm nguy mà hiệu quả thấp. Còn như dùng thuyền, vận chuyển qua sông Thạch Hãn, sẽ được nhiều hơn. Ban chỉ huy đại đội bàn bạc và thống nhất với phương án của Đại đội trưởng Nguyễn Thanh Mai (sau này, đồng chí là giảng viên của Học viện Lục quân Đà Lạt), vận động địa phương cho dùng thuyền máy của bà con ngư dân đi sơ tán, để lại ở các thôn, xóm ven sông, làm phương tiện vận chuyển. Được cấp trên chuẩn y, các chiến sĩ khẩn trương tìm những chiếc thuyền có máy móc còn tốt và một số thùng dầu ma-dút để chạy máy.
Nhớ lại những ngày ấy, các chiến sĩ không thể quên sự giúp đỡ tận tình, có hiệu quả và tình cảm chân thành của nhân dân cũng như du kích bốn thôn: Nhĩ Hạ, Vĩnh Quang, Mai Xá, Lâm Xuân... Những chiếc thuyền đánh cá, đầu máy xe tải nhỏ, máy bơm nước, máy xay xát thóc gạo, các thùng nhiên liệu chạy máy... đều là tài sản lớn mà bà con chắt chiu, dành dụm trong nhiều năm để làm ăn sinh sống. Nhưng khi bộ đội xin được trưng dụng thì ai cũng sẵn sàng ủng hộ và nói: “Mấy chú từ miền Bắc vô đây chẳng tiếc máu xương để giải phóng cho bà con, thì tụi tôi tiếc chi các thứ đó...”.
Thôn Nhĩ Hạ có o Hồng, du kích, mới 17 tuổi, mặt tròn, da trắng, mắt bồ câu. Hồng đang dẫn đường cho bộ đội thì bị pháo địch bắn dữ dội. Một số chiến sĩ mới vào chiến trường, chưa quen trận mạc nên hốt hoảng, lúng túng. Giữa lúc ấy, o bình tĩnh hướng dẫn anh em xuống trú ẩn vào các hố bom vừa nổ, bảo toàn lực lượng.
Có thuyền và nhiên liệu chạy máy, phân đội vận tải thủy của đơn vị được thành lập, kèm theo một tổ bảo đảm kỹ thuật mà nòng cốt là mấy chiến sĩ quê ở hai huyện Giao Thủy và Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ngay trong 5 đêm đầu tiên, đơn vị đã vận chuyển được 8 tấn vũ khí vào thị xã Quảng Trị và đưa gần 100 thương binh về tuyến sau an toàn. Nhưng rồi địch phát hiện ra, nên cuộc chiến ác liệt trên sông Thạch Hãn bắt đầu...
Để tìm diệt thuyền tiếp tế của ta, đêm đêm, chúng cho máy bay thả đèn dù sáng rực và rải bom từ trường trên sông, nhiều nhất là đoạn từ cầu Quảng Trị, thôn Nhan Biều đến căn cứ Ái Tử. Với ánh sáng đèn dù, các chiến sĩ cứ nghe tiếng máy bay và tiếng nổ “bụp” trên trời, liền cho thuyền đã ngụy trang, tắt máy, áp sát vào bờ; đợi đèn dù tắt, máy bay đi xa, lại tiếp tục công việc. Nhưng đối phó với bom từ trường thì không dễ, bởi bom chìm sâu dưới lòng sông, rất khó phát hiện. Nếu thuyền đi qua, tác động của chân vịt, bom sẽ phát nổ, gây thương vong, nhấn chìm vũ khí, đạn dược.
Thời gian đầu, bom từ trường của địch đã phá hủy nhiều thuyền của ta và làm hàng chục cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Đồng chí Phạm Vụ, Chính trị viên đại đội, dẫn một tổ đi tìm kiếm thi hài đồng đội để chôn cất, đã phải thu nhặt từng mảnh thi thể liệt sĩ bị bom địch hất lên bờ sông. “Cái khó ló cái khôn”, phải tìm cách chế ngự sự hiểm nguy này.
Đơn vị cử một tổ được tăng cường ba chiến sĩ công binh của Sư đoàn 320B và có du kích địa phương giúp đỡ, thực hiện rà phá bom từ trường bằng phương pháp thủ công: Dùng dây ni-lông, buộc các thùng đạn đại liên của địch (cách 5m một thùng), với độ sâu từ 1,5 đến 2m, có cây chuối làm phao; rồi chăng ngang sông và kéo xuôi dòng chảy để kích cho bom nổ. Trong quá trình rà phá bom, anh chị em phát hiện nhiều thi thể bộ đội ta hy sinh trong lúc vượt sông sang Thành cổ Quảng Trị, trôi theo dòng nước khiến anh chị em sục sôi căm thù giặc. Đêm đêm, khi đưa thuyền ngang qua các đoạn sông có bom từ trường, để hạn chế thương vong, ta tắt máy, chỉ để một người trên thuyền cầm sào giữ hướng, số còn lại, buộc dây vào mũi thuyền, lội theo mép nước, kéo qua đoạn nguy hiểm.
Trong 81 ngày đêm diễn ra chiến dịch bảo vệ thị xã, Thành cổ Quảng Trị, thì có đến gần 40 đêm, thuyền của Đại đội 1, vận chuyển vũ khí, đạn dược, thương binh cho các đơn vị bộ đội. Thường thì, mỗi đêm từ một đến ba chiếc qua sông và hầu như, đêm nào cũng có đồng đội hy sinh. Khó khăn, gian khổ và hiểm nguy như vậy, nhưng với khẩu hiệu “Đoàn Quang Sơn còn thì thị xã, Thành cổ Quảng Trị còn”, “Đại đội 1 còn thì Đoàn Quang Sơn còn được cung cấp vũ khí, đạn dược”. Anh em trong đơn vị đã đoàn kết một lòng, kiên quyết vượt qua mưa bom, bão đạn của quân thù để đưa những chuyến hàng tới đích.
Trong 81 ngày đêm, ngược xuôi dòng Thạch Hãn làm nhiệm vụ, một phần ba số quân của Đại đội 1 đã mãi mãi hóa thân vào dòng sông đầy máu lửa. Cùng với những con thuyền, hài cốt liệt sĩ của đơn vị còn nằm dưới lòng sông này. Linh hồn của các anh trở thành hồn thiêng sông nước.
... Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ
Đáy sông còn đó, bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm
(Thơ Lê Bá Dương)
Cuộc chiến đấu anh hùng trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, kết thúc bằng thất bại của một đội quân xâm lược đông hơn 5 vạn tên, với thừa thãi vũ khí, bom đạn hiện đại, một lần nữa làm sáng ngời chân lý: Kẻ thù dù có vũ khí tối tân đến đâu cũng phải khuất phục trước những con người có ý chí kiên cường, một lòng chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Đúng như cố Tổng bí thư Lê Duẩn tôn vinh về cuộc chiến đấu trong Thành cổ Quảng Trị: “Chúng ta đã chịu được không phải chúng ta là gang thép; vì gang thép cũng chảy với bom đạn địch; mà chúng ta là những con người thực sự, con người Việt Nam với truyền thống hàng nghìn năm, đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trọng đại trước Tổ quốc, trước thời đại”.
Thành cổ cùng với thị xã Quảng Trị đã được Nhà nước ta tuyên dương danh hiệu: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Lập nên những chiến công vang dội đó, nơi đây đã thấm đẫm máu của 18 nghìn cán bộ, chiến sĩ, đồng bào Quảng Trị và cả nước. Dưới lớp cỏ non Thành cổ, ngã ba Long Hưng, được gọi là “ngã ba bom”, “ngã ba lửa”, dòng sông Thạch Hãn... bao nhiêu người con yêu nước đã mãi mãi nằm lại. Đời đời, con cháu luôn luôn tưởng nhớ một thời máu lửa, một thời oanh liệt, hào hùng mà cha anh đã làm tất cả để đánh đuổi giặc ngoại xâm, đem lại cuộc sống hòa bình, tươi đẹp như hôm nay.

Trụ sở CPCMLT Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam

Người thành cổ Quảng trị

Tru sở chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền nam việt nam thuộc  khu phố Tây Hòa thuộc địa phận thị trấn Cam Lộ, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. cách thị xã Đông Hà 12 km về phía Tây, cách quốc lộ 9 200m về phía Bắc. Đây là một  di tích văn hóa hết sức quý giá .Đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 154-QĐ ngày 25 tháng 01 năm 1991
Khu trụ sở Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (từ tháng 6/1973 đến tháng 5/1975) nằm ở khu phố Tây Hòa thuộc địa phận thị trấn Cam Lộ, huyện Cam Lộ, cách quốc lộ 9 hơn 200m về phía Bắc, cách thị xã Đông Hà 12km về phía Tây. Di tích đã được Bộ VHTT xếp hạng quốc gia theo Quyết định số 154/QĐ-VH ngày 25 tháng 01 năm 1991.
TRỤ SỞ CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM
Tây Hòa - TT Cam Lộ
Bản đồ
Vệ tinh
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CMLTCHMNVN) là cơ quan quyền lực tập trung cao nhất đại diện cho cách mạng Miền Nam, là khối đại đoàn kết toàn dân, đại diện cho nguyện vọng, ý chí của toàn thể nhân dân Miền Nam. Chính phủ CMLTCHMN VN ra đời từ Hội nghị hiệp thương giữa Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam vào ngày 23/5/1969 và được Đại hội đại biểu quốc dân Miền Nam (từ 6 - 8/6/1969) lập ra.

Chính phủ CMLTCHMNVN được thành lập là kết quả tất yếu của một quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ và cực kỳ anh dũng của quân và dân miền Nam. Nó đánh dấu một bước thắng lợi mang ý nghĩa lịch sử trọng đại trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Từ khi ra đời, Chính phủ CMLTCHMNVN đã lãnh đạo nhân dân Miền Nam đấu tranh giành nhiều thắng lợi to lớn trên mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán và phải chấp nhận ký hiệp định Paris, rút hết quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam, trả lại hòa bình cho nhân dân miền Nam. Từ ngày 6/6/1969 dến ngày 6/6/1973, trụ sở Chính phủ CMLTCHMN Việt Nam đóng tại một vùng căn cứ thuộc tỉnh Tây Ninh.

Đến giữa năm 1972, tỉnh Quảng Trị được giải phóng và sau đó, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được ký kết; với mục đích tạo thuận lợi các hoạt động ngoại giao, tiếp tục lãnh đạo cách mạng tiến tới thắng lợi hoàn toàn, Chính phủ CMLTCHMNVN quyết định chọn vùng đất thuộc thôn Tân Hòa (nay là thị trấn Cam Lộ), huyện Cam Lộ, Quảng Trị, đặt trụ sở làm việc. Từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tàu biển chở vật liệu xây dựng như: Xi măng, khung sườn bằng sắt, tốn, ván vào và 500 công nhân của Công ty Xây dựng số 8 tỉnh Nghệ An lúc bấy giờ, do hai Thứ trưởng Bộ Xây dựng trực tiếp đôn đốc thi công suốt 25 ngày đêm, đã nhanh chóng hoàn tất công trình đưa vào sử dụng đúng vào ngày 6/6/1973, kỷ niệm lần thứ tư ngày thành lập Chính phủ CMLTCHMNVN.
Khu trụ sở Chính phủ CMLTCHMNVN được xây dựng bao gồm 2 khu độc lập, trong đó khu A với 2 nhà làm việc của Chính phủ và Bộ Ngoại giao, 1 nhà ăn; còn khu B gồm 5 dãy nhà, trong đó có 2 nhà khách làm nơi lưu trú của các Đại sứ, 3 nhà còn lại là nơi làm việc, ăn nghỉ của các thành viên đi theo Đại sứ các nước, phóng viên báo chí, các nhân viên, cán bộ của Chính phủ...
Quangtri360.com - Trụ sở Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam

Quangtri360.com - Trụ sở Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam
Phòng khách
Song, tại khu di tích Chính phủ CMLTCHMNVN ngày nay chỉ có Nhà làm việc của Chính phủ và nhà nghỉ của các Đại sứ; còn lại những dãy nhà khác chỉ là nền móng và bia đá ghi dấu. "Nhà làm việc của Chính phủ và nhà nghỉ của các Đại sứ được Bộ VHTT (cũ) đầu tư tôn tạo phục dựng cách đây khoảng 4 năm" .
Sau năm 1975, khi Chính phủ CMLTCHMNVN kết thúc vai trò lịch sử của mình thì trụ sở được chuyển giao cho cơ quan dân sự quản lý. Không may, vào tháng 9/1985, bão số 8 đã tàn phá và đã hủy hoại hoàn toàn công trình... khi phục dựng lại kiến trúc và vật liệu xây dựng các ngôi nhà vẫn đảm bảo đúng nguyên gốc công trình được làm từ ban đầu. Ngay cả nội thất và đồ dùng bên trong nhà cũng như xưa, không có gì thay đổi...
Gian giữa của nhà Chính phủ là phòng giao tế, nơi tổ chức đại lễ ngoại giao, cũng là nơi Đại sứ các nước đến trình Quốc thư đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ CMLTCHMNVN. Anh Chức kể rằng, sau khi chuyển giao cho cơ quan dân sự quản lý, rồi bị bão số 8 tàn phá, dường như hiện vật tại trụ sở Chính phủ CMLTCHMNVN đã bị thất lạc và hư hỏng; chỉ còn hai chiếc quạt điện là hiện vật gốc. Từ những bức ảnh tư liệu đen trắng mờ nhạt, rồi lần theo lời kể của từng nhân chứng, Trung tâm Di tích - Danh thắng Quảng Trị đã giao nhiệm vụ cho các cán bộ, nhân viên thiết kế lại mẫu, tìm lại các cơ sở sản xuất đồ dùng trang trí nội thất ở Hà Nội để phục chế nguyên gốc các hiện vật, trong đó có những tấm thảm, bục gỗ, lọ hoa; những chậu cây, bàn tiếp khách, bàn làm việc, giường ngủ... của Chủ tịch Hội đồng cố vấn Nguyễn Hữu Thọ ở các gian bên phải và bên trái căn nhà.
Ngay tại gian giữa của nhà Chính phủ cũng đã diễn ra sự kiện quan trọng, đó là vào ngày 6/6/1973, Chính phủ CMLTCHMNVN làm lễ ra mắt nhân dân trong buổi mít tinh long trọng, trước sự chứng kiến của đại biểu 19 nước anh em bầu bạn tới dự và trình Quốc thư, cùng đông đảo phóng viên báo chí trong và ngoài nước. Vào cuối năm 1973, tại gian phòng cũng đã đón đồng chí Fidel Castro - Chủ tịch Đảng Cộng sản Cuba; đồng chí Jorger Marsel - Bí thư Đảng Cộng sản Pháp và nhiều đồng chí lãnh đạo các nước anh em tới thăm, cổ vũ nhiệt tình cuộc đấu tranh gian khổ của nhân dân miền Nam...
Quangtri360.com - Trụ sở Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam
Chủ tịch Fidel Castro ở Quảng Trị năm 1973
Trong gian phòng trưng bày của khu di tích trụ sở Chính phủ CMLTCHMNVN ghi nhận có hơn 40 nước cử Đại sứ đến trình Quốc thư đặt quan hệ ngạo giao và nhiều đoàn đại biểu quốc tế đến thăm. Và, cũng còn đây sắc luật khen thưởng nhân dân và cán bộ có công với cách mạng, cũng như những hình ảnh đoàn đại diện của Chính phủ CMLTCHMNVN đi thăm và đặt quan hệ ngoại giao với các nước anh em, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ cuộc chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta, tạo thêm vị thế Chính phủ trên trường quốc tế...
Quangtri360.com - Trụ sở Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam
Xe chở bộ trưởng bộ ngoại giao  Nguyễn Thị Bình

Từ khi ra đời, nó đã tập hợp được các lực lượng dân chủ xung quanh Chính phủ để tiến hành cuộc cách mạng đòi dân chủ và độc lập ở Miền Nam. Lần đầu tiên trong vùng giải phóng, Chính phủ Cách mạng lâm thời đã có trụ sở chính thức để làm việc, đặt quan hệ ngoại giao với tất cả các nước trên thế giới, đại diện cho nhân dân miền Nam nói lên tiếng nói của mình. Chính phủ CMLTCHMN Việt Nam với những chiến lược, sách lược nhạy bén, sáng suốt đã lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu tranh đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; đưa cuộc kháng chiến thần thánh chống đế quốc Mỹ của nhân dân Miền Nam đến thắng lợi hoàn toàn.

Thứ Năm, ngày 26 tháng 3 năm 2015

Lâm Hoàng, một người con ưu tú của quê hương Quảng Trị

Người thành cổ Quảng trị

Lâm Hoằng là vị quan đại thần của triều Nguyễn, đã có công lao to lớn trong việc xây dựng đất nước, chống lại quân xâm lược Pháp nửa cuối thế kỷ XIX.
Thành Trấn Hải ở Cửa biển Thuận An, Huế - nơi Lâm Hoằng tuẫn tiết
Thành Trấn Hải ở Cửa biển Thuận An, Huế - nơi Lâm Hoằng tuẫn tiết
1. Lâm Hoằng - một đức tính kiên trì, ham học
Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1824 (Giáp Thân) thuộc làng Gia Bình, xã Gio An, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.
Theo gia phả tại làng Gia Bình, kể từ cụ Thuỷ Tổ Lâm Kim Bảng đến cụ Lâm Hoằng ít nhất cũng được 7 đời nối tiếp sinh sống ở vùng rừng núi phía Tây Quảng Trị. Đến đời cụ Lâm Hoằng mới là người đầu tiên trong dòng dõi họ Lâm thi đỗ đến đại khoa. Hiện tại chưa tìm ra được tư liệu cho biết hoàn cảnh nào Lâm Hoằng được đi học, học ở đâu, với thầy nào. Nhưng theo tài liệu chính sử cho biết đến khoa thi Đinh Mão năm 1867 cụ Lâm Hoằng thi đậu Cử nhân (năm 45 tuổi); đến khoa thi Mậu Thìn 1868 thi đậu Phó bảng(1)Sách Đại Nam thực lục chính biên, Đệ tứ kỷ, Tập XXXI, NXB Khoa học xã hội (1975 - 1976), trang 208, ghi: “Năm 1867 cho những người sau đây đỗ Tiến sĩ (đệ II giáp: Vũ Nhự, đệ III giáp: Bùi Ước, Dương Khuê, Nguyễn Tái). - Đỗ Phó bảng: Võ Duy Tân (Tuân?), Nguyễn Quán (Hoan?), Nguyễn Thuật, Vũ Văn Bảo, Khuất Duy Hài, Hoàng Dụng Tân, Tô Huân, Phan Đình Vận, Lê Khánh Thiện, Lê Doãn Thành, Lâm Hoằng, Nguyễn Đình Tựu”. Trong danh sách trúng tuyển, Lâm Hoằng được xếp đứng thứ 14, có thể nói rằng tuy xếp sau những vị ấy, nhưng nếu nhìn chung cả nước, theo thể chế thi tuyển nhân tài hồi ấy rất chặt chẽ, nghiêm túc và trang trọng. Ba năm một lần nhà vua mới mở kỳ thi, một cuộc tuyển chọn cao nhất, khó nhất cho cả nước, tập trung hàng ngàn sĩ phu học rộng, tài cao tập trung cùng nhau đua tài, dưới sự trực tiếp xét duyệt của triều đình và nhà vua, và chỉ 15 vị được trúng tuyển. Có thể nói rằng, việc Lâm Hoằng đỗ đạt đại khoa, mở ra truyền thống khoa bảng; đây là niềm tự hào lớn không chỉ của dòng họ Lâm làng Gia Bình, mà là cả một niềm tự hào lớn của vùng đất nghèo khó tỉnh Quảng Trị.
Lăng mộ Lâm Hoằng tại xã Gio Bình, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị
2. Công tác nội trị, chăm lo cho dân
Lâm Hoằng là một vị quan có tấm lòng nhân ái, trung nghĩa, luôn thương yêu, chăm lo cho dân. Điều đó được thể hiện qua từng lời nói, hành động và việc làm của Ông. Do điều kiện của lịch sử, chiến tranh nên những bài văn, sớ tâu lên vua về việc nước, việc dân... và ngay cả bài văn sách của Lâm Hoằng trả lời câu hỏi trong đề thi khoa thi năm Mậu Thìn 1868 đã bị thất lạc, chưa sưu tầm được. Đó là một thiệt thòi, tuy nhiên trong chính sử của nhà Nguyễn và một số sách nghiên cứu lịch sử sau này đã ghi chép về một số lời nói, thái độ, và việc làm của Lâm Hoằng. Đó là những thông tin rất ít ỏi nhưng rất quý báu để minh chứng cho cốt cách và nhân phẩm của Ông trước thời cuộc đầy biến động lúc bấy giờ.
Đại Nam thực lục chính biên, đệ tứ kỷ, Tập XXXIV, trang 242 có ghi: “Năm 1879,... Bố chính tỉnh Quảng Ngãi là Lâm Hoành (Lâm Hoằng) tâu lên nói: dân tình thiếu ăn, chuẩn cho lấy gạo ở kho ra 4.000 phương để chuẩn cấp cho dân, Hoành (Hoằng) lại hiểu thị khuyên nhà giàu quyên giúp, gia thưởng đều có thứ bậc (500 quan trở lên thưởng 1 chiếc bài bạc, nặng 5 đồng cân, 1000 quan trở lên, thưởng 1 chiếc bài bạc, nặng 1 lạng)...vua không cho.” Đến trang 254, sách đã ghi: “ Bố chính sứ Quảng Ngãi là Lâm Hoằng dâng sứ tâu: dân hạt ấy quẩn bất ngày càng quá, xin trích lấy tiền gạo ở kho chuẩn cấp cho dân. Vua chuẩn trích ra 1 vạn quan tiền, 1 vạn phương gạo, lần lượt chuẩn cấp và giao cho các phủ huyện, cấp thuê dân nghèo sửa đắp cầu đường thay cho phát chẩn” Đến trang 303 (Sách đã dẫn) ghi: “Năm 1880,... Bố chính sứ Quảng Ngãi là Lâm Hoằng dâng sớ tâu: thuộc hạt ấy nhiều lần gặp mất mùa, lương thực của dân chưa thư, xin triển hoãn lại. Vua cho là tình hình các hạt tả, hữu trực kỳ cũng giống như tỉnh Quãng Ngãi. Nên cho hoãn kỳ tuyển lính cho các hạt, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi”.
Những sự kiện mà Đại Nam thực lục chính biên đã ghi chép lại ở trên cho chúng ta biết rằng tình hình lúc bấy giờ, được thể hiện qua các điểm sau:
- Mất mùa triền miên nên dân tình đói nặng, khổ cực, hằng năm phải bị tuyển lính nên không đủ sức sản xuất. Trước cảnh tình cơ cực, cụ Lâm Hoằng dâng sớ tâu vua xin cho cứu dân, với ba biện pháp trước mắt là: Trích kho gạo của Nhà nước để chuẩn cấp; Khuyến khích nhà giàu quyên góp trợ giúp, bằng khen thưởng; Hoãn kỳ tuyển lính.
- Vua Tự Đức là một ông vua chuyên chế, trực tiếp quyết định mọi việc do đình thần tâu lên; nếu đã tâu lên mà bị vua bác bỏ thì có ai dám tâu lại, sẽ mắc tội là nghịch thần.
- Lâm Hoằng lúc bấy giờ với chức quan là Bố chính của một tỉnh, chưa phải là bậc đại thần của triều đình, không phải là cận thần bên vua. Việc Cụ tâu đi tâu lại nhiều lần mong nhà vua chấp thuận cứu đói cho dân đâu có dễ dàng, đôi khi còn mang vạ vào thân. Điều đáng lưu ý là năm 1879, Lâm Hoằng tâu xin vua chuẩn y việc cứu đói, nhưng vua Tự Đức không chấp thuận. Ông không rút lui mà tiếp tục tâu lên lần thứ hai. Ắt rằng trong lần tâu sau, lời lẽ văn chương của Lâm Hoằng đã trình bày chân thành thống thiết thế nào, và về nhân cách của một vị Bố chính thương yêu, chăm lo cho dân đã khiến cho vua Tự Đức chấp thuận những điều mà Lâm Hoằng đã tâu lên. Đại Nam thực lục chính biên, trang 255 ghi: “Nhân đó vua dụ rằng: dân tình ở Quảng Ngãi rất là đáng thương. Việc phát chẩn để cứu, hết thảy cứ đợi báo, thì dân đã khốn khổ lắm. Nên thông sức cho các địa phương, nếu có việc mà giống như thế, đều chiếu lệ mà làm, để hết trách nhiệm chăn dân, và hết sức bàn tính, làm thế nào cốt được sống nhiều người, để trên được đỡ lo dưới được giúp sức khẩn cấp mới xứng chức vụ”. Như vậy, với lòng tha thiết mong cứu được dân, không sợ mắc tội khi quân, khi tâu lại lần hai với vua Tự Đức, một vị vua chuyên chế, quan liêu. Chính điều này, đã thể hiện sự dũng cảm quên mình vì dân của ông. Và đã làm lay chuyển lòng trắc ẩn của vua Tự Đức. Vua đã đồng ý những điều mà Bố chính Quảng Ngãi đưa lên. Không những thế, lại còn mở ra được thuận lợi mới là từ nay, các quan địa phương được phép cứu giúp dân ngay khi gặp nạn đói nặng, không phải đợi nhà vua chuẩn cho nữa. Và như trên đã thấy, việc hoãn kỳ tuyển lính để cho dân có sức sản xuất, không chỉ trong phạm vi Lâm Hoằng phụ trách mà được thêm bốn tỉnh khác có cùng cảnh ngộ khó khăn. Rõ ràng, với tấm lòng nhân ái, thương dân, sự kiên trì, dũng cảm và khôn khéo trong từng lời trình tấu của Lâm Hoằng, mà kết quả đạt được nhiều hơn mong ước.
3. Xả thân vì nước 
 Năm 1882, sau khi đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai, Hoàng Diệu tử trận, quân Pháp đánh rộng ra các tỉnh Bắc Kỳ và chuẩn bị tiến công cửa biển Thuận An, yết hầu sống còn của kinh thành Huế. Việc tăng cường phòng thủ trở nên cấp thiết ở ngay cửa ngõ này.Trước tình thế rất nguy cấp Lâm Hoằng tâu lên vua: “Cửu ngõ Thuận An là cửa ngõ kinh sư, sự phòng bị rất là quan yếu. Người giữ chức vụ nên phải mười phần sửa sang xem xét, để phòng sự việc không ngờ. Thế mà từ tháng trước đến nay, nhiều lần tiếp các nha tư khẩn cấp những đồ dùng ở bờ biển ấy, trong đó mục nát hư hỏng kể đến trăm nghìn, tu bổ không phải mười ngày kịp được, chợt có sự biến trông cậy vào đâu?” (Đại Nam thực lục chính biên,sđd, Tập XXXV, trang 118). Đến trang 119 (Sách đã dẫn) chép: “Quan viện cơ mật và Thượng bạc là bọn Trần Tiễn Thành(2) cho những lời nói ấy so với thời thế chưa phải là kế sách nên làm, mà việc phòng giữ ở cửa biển chưa được chắc chắn, làm thêm cũng chưa chắc đã vững bền, tỏ cho người biết bờ ngoài, chỉ thêm nghi ngờ bắt bẻ. Xin đình việc đắp luỹ ở Thuận An mà phải rút hết biền binh phải thêm về kinh chuyên việc huấn luyện...Vua nghe lời ấy bãi bỏ việc đắp luỹ thêm quân ở Thuận An”.
Như vậy, trong tình hình quân Pháp rất hung hăng, sắp đánh chiếm kinh thành, nạn mất nước sắp xảy ra. Trước tình thế đó Lâm Hoằng dâng kế gấp rút phòng thủ, trước hết củng cố tăng binh, đắp thành lũy ở cửa biển Thuận An vì do lâu nay bị xuống cấp, hư hỏng nhiều. Đồng thời vạch tội vô trách nhiệm của những vị quan chức đã bỏ bê việc phòng bị, không chăm sóc củng cố cơ sở chiến đấu mà để hư hỏng. Việc trình tấu sự xuống cấp ở cửa biển Thuận An là gián tiếp vạch tội Trần Tiễn Thành, người đứng đầu viện cơ mật nắm quyền quyết định kế hoạch quốc phòng. Đồng thời cũng là công khai đi ngược lại chủ trương cầu an của Trần Tiễn Thành, góp thêm tiếng nói kiên quyết của những người yêu nước không sợ giặc, mà quyết giữ đến cùng. Rõ ràng những thái độ của Lâm Hoằng là công khai và một sự thách thức, đối đầu rất dũng cảm đối với bọn cầu an đang có thế lực rất lớn ở triều đình, đứng đầu là Trần Tiễn Thành mà vua đang tin dùng. Đồng thời Ông cũng không sợ đụng chạm đến lòng tự ái của nhà vua cũng đang có ảo tưởng mong được giặc để cho yên. Vì vậy, vua đã nghe theo lời của Trần Tiễn Thành nên bãi bỏ việc củng cố đồn luỹ và cho quân trực chiến rút lui.
Tình thế rất khẩn trương, vua Tự Đức phải giao cho Tôn Thất Thuyết làm Thượng thư Bộ binh thay cho Trần Tiễn Thành sang làm Thượng thư Bộ lại, phái chủ chiến được thêm quyền thế, nhưng phái cầu hòa vẫn đang còn thế lực. Năm 1883, việc tăng cường phòng thủ ở cửa biển Thuận An được tiếp tục trở lại. Chính trong mấy tháng còn lại cuối đời của vua Tự Đức, Lâm Hoằng đang giữ chức Tham tri Bộ công được phái xuống của biển Thuận An sung chức Phó phòng luyện cùng hai quan võ đang trấn giữ thành là Hữu Quân Đô thống Lê Sỹ và Thống chế Lê Chuẩn trực tiếp tham mưu và thay mặt triều đình quyết định việc chống giặc.
Ngày 16/8/1883, Đô đốc Courbet thống lĩnh tám tàu chiến với nhiều đại bác 65 ly với sức công phá lớn và hơn ngàn lính Pháp kéo đến tiến đánh cửa biển Thuận An. Lâm Hoằng cùng các vị quan trấn giữ lên mặt thành trực tiếp chỉ huy quân lính chống trả mãnh liệt. Quân triều đình bắn súng thần công, nhưng do đạn quá thô sơ nên không đánh phá chìm tàu địch. Giặc Pháp cho hoả lực bắn trả ác liệt hơn, nhiều pháo luỹ bị phá huỷ. Sau ba ngày chống trả, nhiều quan binh của triều đình bị tử trận; không để rơi vào tay giặc, Lâm Hoằng đã gieo mình xuống sông tuẫn tiết. Thành Trấn Hải, Thuận An rơi vào tay giặc.
Với những công lao to lớn và sự hy sinh anh dũng của Cụ Lâm Hoằng trong trận quyết chiến với quân Pháp tại cửa biển Thuận An ngày 16 tháng 8 năm 1883, triều đình đã truy phong cho Lâm Hoằng là "Công Bộ Thượng thư"(3) và cho quân lính đưa về an táng tại quê nhà thuộc làng Gia Bình, tổng An Định, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn Xuân Mai, xã Gio Bình, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị). Bài vị của Cụ được đưa vào thờ trong Đền Trung Chính của triều đình nhà Nguyễn.
Có thể nói rằng, cuộc đời và sự nghiệp của Lâm Hoằng là tấm gương sáng về sự hiếu học,  yêu thương dân, luôn chăm lo đến đời sống của dân; đặc biệt là tinh thần yêu nước, sự xả thân, chống trả giặc đến hơi thở cuối cùng của ông trong trận ngày 16 tháng 8 năm 1883 đáng để người đời kính trọng, noi theo. Nhằm ghi nhận và tri ân đến những công lao to lớn đó, di tích lăng mộ Lâm Hoằng được công nhận là di tích theo Quyết định Số 2048/QĐ-UBND, ngày 31/10/2013 của UBND tỉnh Quảng Trị; đồng thời UBND tỉnh cũng thông qua đề án đặt tên các con đường, trong đó có đường Lâm Hoằng ở thành phố Đông Hà.
Đường Lâm Hoằng ở thành phố Huế
Chú giải:
1: Phó bảng: Văn bằng (sắc) do vua ban cho những người đậu kỳ thi Hội. Phó bảng(Tiếng Hoa: Ất tiến sĩ ) là một học vịtrong hệ thống giáo dục Việt Namthời nhà Nguyễn(1802 - 1845).Phó bảng là học vị ở dưới Tiến sĩ, trên Cử nhân. Người đi dự thi Hội mà không đủ điểm đỗ Tiến sĩ, được lấy đỗ thêm để khuyến khích, tên ghi vào một bảng phụ, nên gọi là Phó bảng. Thông thường đỗ Tiến sĩ người ta gọi là Giáp Khoa tiến sĩ, còn Phó bảng là Ất Khoa tiến sĩ. Văn bằng này có từ khoa thi Kỉ Sửu Minh Mạng thứ 10 (1829). Ai đã được đỗ Phó bảng rồi thì không được để lấy Tiến sĩ; trừ khi có mở khoa đặc biệt. Do đó người ta xem Phó bảng tương đương với Tiến sĩ (Trích: Nguyễn Q. Thắng - Khoa cử và giáo dục Việt Nam, NXB Tổng hợp TP HCM, 2005, trang 406).
2: Lúc này Trần Tiễn Thành đang là thụ Hiệp biện, tiến thự Văn Minh điện đại học sĩ, nắm quyền ở viện cơ mật, một vị đại thần được vua Tự Đức tin dùng.
3: Chức quan như là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày nay.
Bài; ảnh: Nguyễn Duy Hùng

Từ Miếu thờ chúa Tiên Nguyễn Hoàng đến Chùa Long Phước

Người thành cổ Quảng trị
Miếu thờ chúa Tiên Nguyễn Hoàng do nhân dân các phường An Định Nha, An Hướng và Phương Xuân lập để thờ phụng và ghi nhớ ân đức của người. Đến năm 1824, vua Minh Mạng không cho dân thờ phụng, nên đã cho đổi thành chùa Long Phước. Miếu thờ Nguyễn Hoàng - Chùa Long Phước nằm ở ven chân của một quả đồi, phía nam cánh đồng Trạng, thuộc địa phận làng An Nha, xã Gio An, huyện Gio Linh; cách đường 75 gần 2km về phía bắc.
Một trong những viên đá táng chân cột còn lại tại dấu tích chùa Long Phước (thôn An Nha, xã Gio An, huyện Gio Linh)
Một trong những viên đá táng chân cột còn lại tại dấu tích chùa Long Phước (thôn An Nha, xã Gio An, huyện Gio Linh)

 

Ngày nay, di tích này đã bị hoang phế, cây cối mọc um tùm, dấu vết còn lại trên nền đất là những đoạn tường thành được xếp bằng đá, những viên đá táng chân cột và mảnh vỡ của gạch ngói. Tuy vậy, trong tâm thức của người dân địa phương vẫn còn hằn in về một công trình kiến trúc tương đối quy mô được dựng lên trên xứ Cồn Tiên/ Bái Trời/ Bái Ân một thời.

Từ miếu thờ chúa Tiên Nguyễn Hoàng...

Tháng 10 năm Mậu ngọ (1558), Nguyễn Hoàng được phong là Thái úy Ðoan Quận Công, giữ chức trấn thủ tổng quản bình dân hai xứ Thuận - Quảng. Nhận lãnh sứ mệnh lịch sử đó, Nguyễn Hoàng cùng với các công tử Thái Bảo Hòa quận công, Thụy Quận công và các tướng Văn Nham, Thạch Xuyền, Tiền Trung, Tường Lộc đem một nghìn quân ra cửa biển nhằm theo hướng hai xứ Thuận - Quảng tiến vào. Chiến thuyền tiến thẳng vào cửa Việt Yên (Cửa Việt) và ngược dòng Thạch Hãn lên đóng quân trên bãi cát nổi thuộc xã Ái Tử, huyện Vũ Xương (nay là huyện Triệu Phong), mở ra một thời kỳ mới cho vùng đất Quảng Trị nói riêng và xứ đàng Trong nói chung.Ngay trong những ngày đầu vào trấn nhiệm xứ Thuận Hóa, Ðoan Quận Công đã được dân chúng ngưỡng mộ, mến phục. Các bô lão làng Ái Tử đem dâng 7 vò nước trong. Nguyễn Ư Dĩ nói với Nguyễn Hoàng rằng: "Ấy là điềm trời cho ông nước đó!" 1. Những vò nước của các bô lão làng Ái Tử trong trường hợp này có thể được hiểu theo khía cạnh: Nước có nghĩa là đất nước/ quốc gia. Cũng chính từ ý niệm đó mà về sau chúa Tiên Nguyễn Hoàng và các vị chúa kế nghiệp đã dày công tạo dựng ngày một lớn mạnh về mặt thể chế chính trị và cương vực mà về sau được gọi là xứ đàng Trong.
Vào thời điểm này, xứ Thuận Hóa được xem là Ô châu ác địa, nhân dân gồm những thành phần rất phức tạp. Trước tình cảnh này, Nguyễn Hoàng đã tiến hành công việc an dân, buộc họ phải chăm chỉ làm ăn. Ngay từ ngày đầu vào trấn nhiệm xứ Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng đã biết chăm lo, vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, nhẹ xâu thuế. Vì vậy, Nguyễn Hoàng được dân chúng tin yêu gọi là chúa Tiên, sách Ðại Nam thực lục chép "Vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục, bấy giờ được xưng là chúa Tiên" 2. Trong thời gian đóng thủ phủ ở Quảng Trị, cả chúa Tiên và chúa Sãi với chính sách cai trị nghiêm minh, khoan hòa “việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yêu, tín phục, cảm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến mua bán, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp” 3.

1Phan Khoang. Việt sử xứ Ðàng Trong (1558 - 1777). Nxb Văn học. 2001. tr. 109
2Quốc sử quán triều Nguyễn. Ðại Nam thực lục, tập 1 (Tiền biên). Nxb Giáo dục. Hà Nội. 1962. tr. 28.
3Lê Quý Ðôn. Phủ biên tạp lục. Nxb Khoa học. Hà Nội. 1964. tr. 41.

Nguyễn Hoàng là một vị tướng tài kiệt, đã nhiều lần giúp vua Lê đánh bại quân nhà Mạc, dẹp yên quân phản loạn, thổ phỉ... Vào năm 1572, khi đóng dinh ở Ái Tử, Nguyễn Hoàng đã sử dụng mỹ nhân kế để giết tướng nhà Mạc là Lập Bạo, đây được xem như một huyền tích gắn kết với thị nữ Ngô Thị tự Ngọc Lâm - người có sắc đẹp và mưu trí. Dấu tích còn lại về sự tích, sự kiện lịch sử này là ngôi miếu Trảo Trảo phu nhân và dấu tích miếu thờ chúa Tiên Nguyễn Hoàng về sau đổi thành chùa Long Phước/Phúc 1.
Chùa Long Phước vốn là ngôi đền thờ chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Năm 1572, quân nhà Mạc do tướng Lập Bạo chỉ huy vào đánh chúa Nguyễn bị Nguyễn Hoàng dùng kế mỹ nhân đánh cho một trận đại bại ở sông Ái Tử. Số tù binh nhà Mạc được Nguyễn Hoàng đưa lên khẩn hoang ở vùng núi Cồn Tiên, lập ra 36 phường thuộc tổng Bái Trời. Dân các xã An Định, An Hướng, Phường Xuân vì cảm ơn ân đức Thái Tổ đã lập đền thờ Nguyễn Hoàng sau khi ông mất.
Vào năm 1695, chúa Nguyễn Phúc Chu đã khen ngợi việc dân ba phường lập miếu, đã cho đặt chức từ thừa, cấp bằng son và cho bày mũ, áo bào thần ngự ở miếu: “Đặt chức từ thừa ở miếu phường An Định Nha (thuộc huyện Minh Linh, Quảng Trị). Buổi quốc sơ, các phủ đều dựng miếu để thờ các vị thánh vương trước. Dân ba phường An Định Nha, An Hướng và Phương Xuân thuộc tổng Bái Ân cảm nhớ công ơn Thái Tổ, dựng miếu thờ ở An Định Nha. Chúa nghe khen tốt, sai đem những mũ và áo bào thần ngự bày ở miếu, lại sai đặt chức từ thừa để trông coi, cho bằng son” 2.
Đến chùa Long Phước
Đến năm Minh Mạng thứ 4 (1824) nhà vua không cho phép nhân dân được thờ cúng nên nên đổi thành chùa:“chùa ở ba phường An Định Nha, An Hướng và Phương Xuân thuộc Quảng Trị. Buổi quốc sơ dân 3 phường ấy cảm mến ơn đức Thải Tổ dựng miếu thờ. Đến nay dinh thần đem việc tâu lên, vua giao xuống bầy tôi bàn, đều cho là nhân dân thờ cúng nhảm nhí không nên, xin đình chỉ. Vua bèn sai đổi dựng làm chùa, cấp trước cho 100 lạng bạc, khi làm xong cho 300 quan tiền, trừ tô thuế hơn 70 mẫu ruộng đất công để dùng vào việc thờ cúng, đặt 3 người tự phu”3. Và sách Đại Nam nhất thống chí cũng đã chép lại sự kiện này: Chùa Long Phước ở làng An Định, trước là miếu do 3 phường An Định, An Hướng và Phương Xuân cùng thờ Thái tổ hoàng đế bản triều; đến năm Minh Mệnh thứ 4 đổi làm chùa, cho biển nghạch, lại cấp cho 70 mẫu ruộng công và 3 người tự phu để phụng sự 4.
Như vậy, do vua Minh Mạng không cho dân thờ Chúa Tiên, vì việc này phải do triều đình đảm trách, nên miếu thờ chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã được đổi thành chùa Long Phúc/Phước.
Vào năm 1921, L.Cadière đã chép lại sự kiện lập miếu và mô tả hình dáng ngôi miếu thờ Nguyễn Hoàng - chùa Long Phúc trong B.A.V.H như sau: “Các sử liệu cho thấy họ đã lập được 36 phường và con cháu của họ đã dựng lên ngôi đền còn gọi là Long Phúc để tưởng nhớ Nguyễn Hoàng. Khách du lịch đi trên con đường địa phương vừa mới mở bao quanh Cồn Tiên có thể trông thấy được ngôi đền này trên địa phận làng An Định nhưng cách chợ Yên Gia rộng lớn khoảng một vài cây số” 5.

1Miếu Trảo Trảo thuộc địa bàn của Thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong ngày nay; Chùa Long Phước thuộc thôn An Định, xã Gio An, huyện Gio Linh. Hiện nay, những gì vốn có của hai di tích này chỉ được lưu lại qua tư liệu lịch sử và trong tâm thức của người dân địa phương.
2Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, tập 1. NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004, tr. 110.
3Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, tập 2. NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004, tr. 255.
4Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chítập 1. NXB Thuận Hóa. Huế. 1992. tr. 206 - 207.
5Những người bạn cố đô Huế (B.A.V.H)tập VIII (1921). NXB Thuận Hóa, Huế, 2001, tr. 328.

Nguyên xưa Chùa Long Phước có kiến trúc tương đối bề thế, khang trang gồm cổng tam quan ở phía trước, 2 nếp nhà song ngang dựng theo mô thức nhà rường 3 gian 2 chái từng nổi tiếng một thời trên vùng đất thuộc xứ Cồn Tiên - Bái Trời: Trải qua những năm chiến tranh cùng thiên tai, lụt bão, ngôi cổ tự này đã bị hoang phế và đổ nát từ trước những năm 80 (thế kỷ XX). Đến nay, khu vực này chỉ còn một nền đất hoang tàn và cỏ dại.
Trong lần khảo sát phế tích chùa Long Phước vào tháng 5-2013, chúng tôi đã ghi nhận được các vết tích như sau: Trong khuôn viên chừng 500m2 được bao bọc bởi tường thành xếp bằng đá mồ côi (hiện còn lại một số đoạn, tuy nhiên đã bị cây cối che phủ), là một khu đất tương đối bằng phẳng với cây cối mọc um tùm, trên nền còn lưu lại một số mảnh vở của ngói liệt (hay ngói âm dương) và gạch có kính thước tương đối lớn (đây có lẽ là gạch, ngói được dùng để xây dựng chùa dưới thời nhà Nguyễn); lệch về phía tây của khuôn viên còn tồn lưu 30 viên đá táng chân cột nằm nguyên vị trí của nó, với đường kính tương đối lớn (mặt trên của mỗi viên đá táng có đường kính là 62cm), khoảng cách giữa hai hàng cột trong các gian chính là 2m và khoảng cách giữa cột gian chính và cột bên ngoài của gian chái là 1,4m (đo theo chiều ngang của công trình kiến trúc). Dựa vào các đá táng chân cột, chúng tôi nghĩ rằng, nơi đây đã từng tồn tại một công trình kiến trúc tương đối quy mô được xây bằng gạch, khung mái bằng gỗ, mái lợp bằng ngói âm dương.
Các cụ cao niên của làng An Nha (Nguyễn Văn Sắt, 83 tuổi; Nguyễn Thị Con, 96 tuổi) và làng Gia Bình (Lâm Công Lũy, 87 tuổi) cho biết: trước năm 1945, trong chùa vừa thờ phật vừa thờ thần. Theo lệ cũ, dân các làng quanh chùa Long Phước hàng năm vẫn tổ chức tế lễ Thánh Vương (chúa Nguyễn Hoàng) ở tại chùa vào ngày 28/8 âm lịch. Đặc biệt là lễ được tổ chức vào ban đêm. Bên cạnh đó, chùa Long Phước còn thờ một vỏ trấu bằng vàng (tượng trưng cho hạt lúa) và nơi đây từng diễn ra lễ cầu mưa của ba làng (phường) An Nha, An Hướng và Phương Xuân, cũng tại chùa Long Phước, cứ ba năm được tổ chức hát bội một lần dưới sự chủ trì của quan huyện.
Chùa Long Phước (hay miếu thờ chúa Tiên Nguyễn Hoàng) đến nay đã không còn nhưng hành trình khai phá vùng đất Cồn Tiên, trong đó có công lao của chúa Tiên Nguyễn Hoàng cùng tên tuổi của nó vẫn mãi đồng vọng trong sử sách và in sâu vào tâm thức của nhân dân trên vùng đất Cồn Tiên dày chất sử thi này. Và đó cũng là lòng ngưỡng vọng, tri ân của các thế hệ người dân các phường ở xứ Cồn Tiên/ Bái Trời đối với vị chúa nhân từ, đức độ - Nguyễn Hoàng.
Có thể nói từ những ngày đầu vào trấn thủ xứ Thuận Hóa cho đến lúc lâm chung, với chính sách an dân, chăm lo đời sống cho nhân dân... Nguyễn Hoàng cùng với các tướng sĩ của mình đã tạo nên một diện mạo mới về lịch sử, văn hóa, xã hội cho xứ đàng Trong. Chúa Tiên cùng các cận thần của mình ra sức củng cố lực lượng, lập đồn trại ở những nơi hiểm yếu để phòng giữ, mở mang các trục lộ giao thông, đặt các dinh trạm để tiện cho việc liên lạc và đi lại. Tiến hành tuyển mộ và huấn luyện binh sĩ, thực hiện chính sách khai hoang phục hóa, đưa dân đến lập nghiệp ở các vùng đất mới...Nhờ vậy, diện tích canh tác ngày một tăng, lương thực dồi dào, vật phẩm trù phú.
Lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử vùng đất Quảng Trị/Thuận Hóa nói riêng không thể không nhắc đến vai trò của Nguyễn Hoàng trong việc chiêu dân lập làng, mở mang bờ cõi của quốc gia Ðại Việt dưới thời phong kiến. Ngoài hệ thống làng xã được thiết lập trước khi Ðoan Quận Công Nguyễn Hoàng vào trấn nhiệm, thì thời điểm Nguyễn Hoàng chọn vùng đất Ái Tử làm nơi đặt lỵ sở là một thời kỳ mà hệ thống làng xã được thiết lập mới, các thiết chế văn hóa được định hình một cách rõ nét, và đây cũng mốc lịch sử quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam./.
Bài; ảnh: Nguyễn Cường