Kết thúc đợt hoạt động, anh Võ Nguyên Quảng được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì.
Tiểu đoàn 3 của tôi có bốn cán bộ, chiến sĩ hy sinh khi đánh vào ấp Lương Mai ngày 22 tháng 5 năm 1972, đó là: Trung đội phó Bùi Văn Lợi, quê Kỳ Giang, Kỳ Anh, Hà Tĩnh; Trung đội phó Đặng Xuân Ninh, quê Tân Sơn, Thạch Lâm, Thạch Hà, Hà Tĩnh; Tiểu đội phó Trần Văn Kỳ, quê Trung Tiến, Thạch Môn, Thạch Hà, Hà Tĩnh; Tiểu đội phó Lê Văn Lập, quê Thanh Lâm, Cẩm Quang, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh.
Lực lượng vũ trang địa phương huyện Phong Điền có 10 anh chị em hy sinh, có người tôi chỉ nhớ tên, còn quê thì tôi không nhớ. Đó là: Chị Nguyễn Thị Xoa, anh Nguyễn Văn Luật, anh Trần Văn Trường, chị Quế, o Yến, o Con, o Gái, anh Trai, anh Luật, anh Sang (ở Quảng Ninh).
Một dải đất chạy dọc sông Ô Lâu phía bắc tỉnh Thừa Thiên đã được giải phóng. Trung đoàn 27 đã thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thọc sâu trong giai đoạn hai của chiến dịch Quảng Trị.
Cuối tháng 5, tôi được bổ nhiệm chức vụ Trung đoàn phó Trung đoàn 27.
Trước tình hình cả tỉnh Quảng Trị về tay cách mạng, ngày 4 tháng 5, Nguyễn Văn Thiệu - tổng thống ngụy quyền Sài Gòn và đại tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng quân ngụy vội vã bay ra căn cứ quân sự Mang Cá (Huê) họp bàn với các cố vấn quân sự Mỹ và các tướng tá chỉ huy quân đội ngụy để cứu xét tình hình Trị - Thiên. Nguyễn Văn Thiệu cho rằng: Sở dĩ Quảng Trị rơi vào tay cộng quân quá nhanh như vậy là do hạ cấp quá chủ quan không tiên lượng được lực lượng của đối phương. Cái quan trọng hơn là quân sĩ ngoài chiến trường thiếu tinh thần dũng cảm hy sinh... ông ta chỉ trích thẳng thừng Vũ Văn Giai, tư lệnh sư đoàn 3 vì đã tự động cho lui quân phòng tuyến phía bắc và đến khi được tăng quân thì không chịu "tử thủ" vì danh dự quốc gia; bỏ Đông Hà, ái Tử mà chạy.
Trước thảm bại Quảng Trị thất thủ, Thừa Thiên bị uy hiếp nặng nề, Nguyễn Văn Thiệu cách chức Hoàng Xuân Lãm, đưa tướng Ngô Quang Trưởng lên làm tư lệnh quân khu 1, bỏ tù tướng Vũ Văn Giai sư đoàn trưởng sư đoàn 3 và giải thể luôn sư đoàn này.
Ngày 13 tháng 6 năm 1972, sau khi được Mỹ hứa tăng viện trợ, Nguyễn Văn Thiệu quyết định mở cuộc hành quân "Tái chiếm Quảng Trị" lấy tên là "Lam Sơn 72". Để ăn chắc, Thiệu huy động 4 sư đoàn mạnh nhất trong quân đội ngụy, trong đó có sư đoàn dù và sư đoàn lính thủy đánh bộ thuộc lực lượng tổng dự bị quốc gia với lực lượng tương đương 13 trung đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 thiết đoàn được nhiều đơn vị không quân, pháo hạm Mỹ hỗ trợ cho cuộc hành quân tái chiếm này.
Bộ chỉ huy quân đội ngụy chia cuộc hành quân làm ba giai đoạn: Giai đoạn 1, từ cuối tháng 5 đến trung tuần tháng 6: nhanh chóng điều động lực lượng từ các nơi ra nam sông Mỹ Chánh lập tuyến phòng thủ ngăn chặn cuộc tiến công của ta.
Giai đoạn 2, từ cuối tháng 6 đến giữa tháng 7: thực thi tái chiếm huyện Hải Lăng, Triệu Phong và thị xã Quảng Trị. Quân ngụy xem đây là giai đoạn quan trọng nhất của cuộc hành quân. Muốn chiếm lại phần đất còn lại ở phía bắc nhất thiết phải chiếm bằng được bàn đạp phía nam sông Thạch Hãn, trong đó có Thành Cổ - thủ phủ tỉnh Quảng Trị để tạo sức nặng mặc cả với ta tại Hội nghị Pa-ri.
Giai đoạn 3, từ cuối tháng 7 đến giữa tháng 8: chiếm lại toàn bộ ái Tử, Đông Hà, Cam Lộ, Gio Linh.
Về phía ta, sau khi giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị, khí thế bộ đội rất cao. Bộ Tư lệnh chiến dịch đã điều động lực lượng, chuẩn bị vật chất, làm đường cơ giới xuống Cái Mương (tây Mỹ Chánh) để triển khai lực lượng, kết hợp với lực lượng Quân khu Trị - Thiên tiến công từ đường 12 xuống giải phóng Thừa Thiên - Huế. Nhưng do công tác bổ sung quân số, bảo đảm vật chất, tiếp tế hậu cần gặp nhiều khó khăn (chỉ thực hiện được 30% kế hoạch) nên sức chiến đấu của ta giảm sút. Trong khi địch tăng thêm lực lượng và tăng cường phòng thủ, chuẩn bị tiến hành phản kích trên quy mô lớn, ta vẫn tiếp tục thực hiện quyết tâm mở đợt tiến công mới vào tuyến nam sông Mỹ Chánh. Lực lượng ta bị tổn thất lớn hơn hai đợt tiến công trước.
Sau khi nắm được ý đồ tập trung lực lượng phản công tái chiếm tỉnh Quảng Trị của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch một mặt tổ chức lực lượng, điều động các đơn vị chặn đánh địch bảo vệ vùng giải phóng, một mặt thông báo cho Tỉnh ủy và lệnh cho tỉnh đội Quảng Trị tổ chức các lực lượng vũ trang, các tổ chức quân, dân, chính, Đảng ở địa phương khẩn trương sơ tán dân, chuẩn bị chiến đấu, phối hợp với bô đội chủ lực đánh bại cuộc tiến công lớn của địch nhằm chiếm lại toàn bộ tỉnh Quảng Trị, trong đó có âm mưu chiếm cho được Thành Cổ và thị xã làm con bài chính trị phục vụ cho Hội nghị Pa-ri.
Thực hiện chủ trương của. Bộ Tư lệnh chiến dịch và nhiệm vụ của Tỉnh ủy, Tỉnh đội Quảng Trị giao, trong một thời gian ngắn, các cấp ủy, cán bộ, bộ đội đã khẩn trương đưa được tám vạn dân của thị xã và của hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng (những địa bàn địch đánh phá ác liệt nhất) đến các nơi an toàn sau đó đưa phần lớn đồng bào ra Vĩnh Linh.
Quán triệt quyết tâm của Quân ủy Trung ương: "Chỉ có một khả năng giữ vững Quảng Trị là đánh bại cuộc hành quân của địch", Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương tăng cường và chi viện cho lực lượng giữ thị xã, đồng thời liên tục tổ chức những trận phản kích hai bên sườn, chủ yếu là từ hướng tây từng bước đánh bại ý đồ của địch nhằm chiếm thị xã nhanh chóng.
Quyết tâm và chủ trương của trên được quân và dân Quảng Trị nghiêm túc thực hiện.
Hướng chủ yếu là Thành Cổ và thị xã Quảng Trị. Thành Cổ nằm phía đông thị xã Quảng Trị, còn gọi là Thành Đinh Công Tráng. Thành xây bằng gạch từ năm 1827 có hình gần vuông mỗi cạnh 500 mét, phía ngoài có hào rộng 15 mét bao quanh. ở đây, dưới thời ngụy có nhà tỉnh trưởng, tòa thị chính, khu cố vấn Mỹ và một số cơ quan dân sự ngụy.
Tại khu vực thị xã, ngoài lực lượng nòng cốt là Trung đoàn 48, tỉnh đã biên chế đầy đủ cho Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn 3 và Đại đội 32 của thị xã Quảng Trị cùng một số du kích tập trung, cán bộ các ngành để phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ l.ực.
Cuộc chiến đấu, chốt giữ thành Quảng Trị thực sự diễn ra gay go, quyết liệt từ ngày 3 tháng 7 trở đi Sư đoàn dù. sau khi tiến ra đường số 1 đã ra sức đánh phá các chốt nhỏ lẻ của ta, hòng tái chiếm thị xã Quảng Trị.
Tiểu đoàn 7 lữ dù 3 vượt qua làng An Thái, định vượt ngã ba Long Hưng thì gặp bức tường lửa của Đại đội 1 Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 buộc phải chùn lại. Địch cho máy bay giội bom và pháo binh bắn nát những vườn cây trái ở ngã ba Long Hưng. Sau đợt bắn phá dữ dội, tiểu đoàn 7 lại xông lên.
Nhưng chúng lại vấp phải sự chống trả quyết liệt của quân ta. Cứ thế, suất 3 ngày tiểu đoàn 7 dù cạn quân phải lùi về phía sau, để liên đội biệt kích thế chân đánh tiếp. Sự vững chắc của các chốt thép kiên cường ở đây không thể tính bằng ngày bằng giờ mà tính bằng tuần bằng tháng. Thực tế chiến đấu của chốt thép Đại đội 11 Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 48 đã chứng minh một đại đội chốt, tổ chức chỉ huy chặt chẽ, có công sự vững chắc sẽ đánh bại một tiểu đoàn địch.
ở hướng thị xã, Thành Cổ, Trung đoàn 48, Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 3 tỉnh đội Quảng Trị đã chặn đứng hàng chục đợt tiến công của quân dù vào khu vực La Vang, Long Hưng, ngã ba làng Thạch Hãn.
Địch phải điều lữ đoàn 369 từ Gia Đẳng đánh lên Trâm Lý, Quy Thiện, Tri Bưu... Nhưng tất cả các đơn vị chúng tung ra đều bị thiệt hại nặng, phải dừng lại củng cố.
Trên hướng đông, các Trung đoàn 27, Trung đoàn 64 và Trung đoàn 18, Tiểu đoàn 47, sau khi đã đề ra quyết tâm và chủ trương chiến đấu là: "Kiên quyết giữ vững tuyến trận địa ở hướng đông Quảng Trị. Tổ chức chặn đánh địch ở phía trước, luồn sâu đánh mạnh vào sau lưng địch, bắt chúng lui về đối phó với ta. Sử dụng đơn vị cỡ tiểu đoàn, trung đoàn thiếu hiệp đồng cùng xe tăng và pháo binh tiến công vào những điểm quân địch co cụm, lấy tiêu diệt sinh lực địch làm chính".
Thực hiện kế hoạch tác chiến của Mặt trận cánh đông, Trung đoàn 27 cùng một đại đội xe tăng được lệnh luồn sâu vào làng Ngô Xá, với nhiệm vụ giữ vững và mở rộng địa bàn Thanh Lê. Ban chỉ huy trung đoàn phân công anh Cao Uy - Trung đoàn phó Tham mưu trưởng đi sát, theo dõi và cùng ban chỉ huy Tiểu đoàn 1 triển khai kế hoạch chiến đấu.
Làng Ngô Xá và Thanh Lê nằm bên đường số 4, nếu địch vượt qua được Ngô Xá và Thanh Lê, chúng sẽ đánh vào thị xã phía đông bắc qua Quy Thiện, Tri Bưu và đánh dọc theo trục đường số 4 ra quận ly Triệu Phong. Ban chỉ huy Trung đoàn 27 điều Tiểu đoàn 1 vào khu vực Ngô Xá, Thanh Lê mở ra một địa bàn và một cụm chốt ở phía đông bắc thị xã Quảng Trị.
Tiểu đoàn 1 triển khai đội hình chiến đấu xong thì trời vừa sáng. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Viết Giáp đến trận địa Đại đội 1 nằm ngoài làng Ngô Xá. Đây là hướng chủ yếu khống chế toàn bộ đoạn đường số 4 chạy qua làng. Tiểu đoàn trưởng Giáp hài lòng về kế hoạch hiệp đồng giữa Đại đội 1 và phân đội xe tăng mà anh vừa nghe đại đội trưởng báo cáo. Đến với tổ chiến đấu nào tiểu đoàn trưởng cũng thấy anh em đang khẩn trương chuẩn bị chiến đấu Họ hành động với một tinh thần chu đáo và tự giác. Hơn hai trăm con người cùng xe tăng luồn vào đây mà vẫn giữ được bí mật an toàn.
Tôi được anh em Tiểu đoàn 1 kể lại, sáng ngày 17 tháng 7, sau khi dùng bom pháo dọn đường, địch cho xe tăng, thiết giáp cùng bộ binh tiến vào làng Ngô Xá, Thanh Lê. Chúng tiến quân chậm chạp, xe và lính tưởng như quấn lấy nhau. Ngay lúc đó, các chiến sĩ trận địa chốt Đại đội 1 phát hiện gần hai trăm người dân. Một số người đi trước đội hình xe và lính, một số ngồi cả lên xe bọc thép. Lại thêm một thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, bắt những người dân vô tội đi trước làm bia đỡ đạn.
Vào gần làng Ngô Xá, địch dồn dân đi trước, lính ngụy bám phía sau. Trung đội trưởng Trung đội 1 Đại đội 1 Hoàng Trọng Bảo len lỏi giữa chiến hào, đến từng tổ chiến đấu nhắc nhở anh em: - Trong bất cứ tình huống nào cũng phải bảo vệ dân. Tất cả giương lê sẵn sàng đánh gần! Trận địa vẫn im lặng.
Bỗng từ trong đoàn người, một phụ nữ chạy vụt lên phía trước, nói như ra lệnh: - Giải phóng ơi! Bắn đi, không cho chúng vô làng.
Một tràng súng AR15 của địch. Tiếng chị bị dìm đi đột ngột. Chị lảo đảo rồi khụy xuống. Một chiến sĩ nằm cạnh Trung đội trưởng Bảo nhổm dậy, Bảo vội lấy tay ấn anh xuống và bảo: - Còn bao nhiêu đồng bào! Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1 môi mím chặt, người khom xuống chực bật dậy khỏi chiến hào, các chiến sĩ ghì chặt súng trong tay, máu họ như sôi lên.
Cả đoàn người dừng lại bên người phụ nữ vừa ngã xuống. Bà con quây lấy đám lính rồi xô đẩy chúng, chạy dạt sáng hai bên đường. Hành động đó của bà con như mách bảo anh em Đại đội 1. Cả đơn vị xuất kích như một mũi dao cắt rời bọn lính đang ẩn phía sau dân. Bà con nằm rạp cả xuống. Chiến sĩ ta xông lên phía trước đánh địch và che chở cho dân. Khi bà con cô bác đã ở phía sau đội hình chiến đấu của Đại đội 1, các chiến sĩ mới yên tâm nổ súng.
Hơn 1 giờ đồng hồ, lính thủy đánh bộ đã bốn lần phản kích vào trận địa, nhưng cả bốn lần chúng đều bị chặn lại trước ý chí chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1. Họ vẫn gan góc chờ đợi quân địch dẫn xác tới.
xe tăng, xe thiết giáp địch vào cách chốt ta 50 mét, tổ trưởng tổ ba người Nguyễn Thanh Hải nổ súng. Quả đạn B40 vạch một đường lửa màu da cam bay là là mặt đất cắm vào chiếc xe bọc thép M113.
Chiếc xe bốc cháy. Quân địch ở phía sau tháo chạy.
Pháo hạm Mỹ từ biển bắn vào. Trận địa của Đại đội 1 bị cày xới. Chờ cho pháo địch ngừng anh em sửa lại công sự, lắp thêm đạn vào băng rồi lại xách súng lên vị trí sẵn sàng đón đánh quân địch. Cuộc chiến đấu kéo dài đến tối thì kết thúc. Quân địch không sao vào được làng Ngô Xá và Thanh Lê.
Chiến công của Đại đội 1 có phần đóng góp xương máu của người phụ nữ kiên trung. Hình ảnh người phụ nữ ngã xuống trước mũi súng của kẻ thù hôm ấy trên trận địa làng Ngô Xá mãi mãi khắc sâu trong ký ức của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27.
âm mưu đánh chiếm Ngô Xá và Thanh Lê làm bàn đạp tiến đánh thị xã của địch bị thất bại.
Trong đợt chặn đánh quân địch gay go, ác liệt và gian khổ này, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 27 không bao giờ quên gương chiến đấu kiên cường, chỉ huy dũng cảm, táo bạo của chị Trần Thị Tâm, quê Hải Khê, Hải Lăng, Quảng Trị. Chị là huyện đội phó huyện Hải Lăng. Suốt buổi sáng, một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ được pháo binh và thiết giáp yểm trợ tiến công vào xã Hải Quế hòng đánh bật bộ đội và du kích ra khỏi xã này (một ngã ba trọng yếu lên thị xã Quảng Trị). Nhưng tất cả các đợt tiến công của địch đều bị ta đánh bại. Đơn vị chiến đấu của Tâm đã diệt 30 tên, phá hủy hai xe GMC, bắn rơi một trực thăng. Đến chiều, sau nhiều lần dùng pháo binh và máy bay phản lực đánh phá, chúng cho ba chiếc trực thăng "rắn hổ mang" săm soi phát hiện ra hầm của Tâm và một số hầm khác. Chúng đã dùng rốc-két từ trực thăng bắn vào hầm. Tâm anh dũng hy sinhl.
Cùng với các Trung đoàn 64, Trung đoàn 18, Trung đoàn 27 đã đứng vững trên địa bàn, góp phần chặn địch từ hướng đông đánh vào Thành Cổ.
Cuộc chiến của Trung đoàn 27 lúc này với lính thủy đánh bộ đã hình thành ranh giới rõ rệt, do vậy địch dùng máy bay B.52 ném bom rải thảm, hòng hủy diệt mọi sự sống ở đây. Có ngày, trong vòng 2 giờ, chúng huy động 16 lần chiếc đánh vào vùng đất rất hẹp Nại Cửu và Bích La. Chúng còn dùng pháo hạm bắn hàng nghìn quả đạn trong một ngày vào đoạn đường 4 nối Chợ Sải với Nại Cửu.
Lợi dụng trời mưa, có hỏa lực yểm trợ tối đa, chỉ huy lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ thúc ép binh lính ra sức lấn dũi ra vùng giải phóng của ta.
Tại làng Đầu Kênh, nơi đặt sở chỉ huy Trung đoàn 27. Thường vụ Đảng ủy và ban chỉ huy trung đoàn gồm anh Cao Uy (2) - Trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Võ Hiển - Chính ủy, anh Nguyễn Quân và tôi trung đoàn phó, anh Trịnh Văn Thư - Chủ nhiệm chính trị họp và nhất trí đề ra tư tưởng chỉ đạo cho trung đoàn giai đoạn này là: "Giữ chắc, đánh mạnh" và phát động phong trào thi đua: "Kiên cường bám trụ; Chủ động tiến công; Đoàn kết hiệp đồng; Lập công tập thể".
------------------------
1. Trần Thị Tâm được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
2. Lúc này anh Phạm Minh Tâm được trên điều về Sư đoàn 325. Anh Cao Uy lên thay anh Tâm làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27 - Mặt trận B5.
----------------------
Sau cuộc họp, các đơn vị trong toàn trung đoàn tổ chức một đợt sinh hoạt chính trị ngay trên trận địa chiến đấu của mình. Mặc dù trong hoàn cảnh chiến đấu liên tục khẩn trương, nhưng cán bộ chủ trì từ tiểu đoàn, đại đội đến trung đội và tiểu đội đã đề ra yêu cầu cụ thể cho đơn vị mình thực hiện.
Sau khi chiếm được một khu vực rộng lớn của tỉnh Quảng Trị, địch tăng cường củng cố vị trí đứng chân, hình thành thế bao vây thị xã, đánh chiếm các điểm cao phía tây, tiếp tục đánh chiếm từng thôn xã phía đông và tập trung lực lượng đánh chiếm thị xã với mục tiêu cắm cờ lên Thành Cổ trước ngày 10
tháng 7 để phục vụ ý đồ ép ta ở Hội nghị Pa-ri dự định họp lại vào ngày 13 tháng 7 năm 1972 sau nhiều lần trì hoãn.
Trước yêu cầu cấp bách của cuộc chiến đấu, ngày 2 tháng 7, Thường vụ Đảng ủy chiến dịch họp dưới sự chủ trì của Chính ủy, Bí thư đảng ủy Lê Quang Đạo. Hội nghị đã đề ra chủ trương tác chiến trong giai đoạn mới là: "Kết hợp phản công tiêu diệt địch với tiến công để làm thất bại cuộc phản công của chúng. Cụ thể: ở hướng đông quốc lộ 1, lấy tiến công làm chính, hướng đường 12 (tây Huê) cũng lấy tiến công làm chính, các hướng khác kết hợp phản công và tiến công. Có như vậy mới làm cho địch phải căng mỏng lực lượng, ta đánh liên tục dài ngày, vừa tiêu diệt địch, bảo vệ vùng giải phóng, vừa chuẩn bị vật chất, điều chỉnh lực lượng và sử dụng lực lượng hợp lý".
Thực hiện quyết tâm của Thường vụ Đảng ủy chiến dịch, kiên quyết bảo vệ thị xã và Thành Cổ, ta đã sử dụng các đơn vị ở vòng ngoài phản kích mạnh vào cạnh sườn và phía sau đội hình của địch, chốt giữ bằng được các khu vực La Vang, Tích Tường, ngã ba Long Hưng, nhà ga Quảng Trị, Tri Bưu và tuyến sông Vĩnh Định.
Ngày 9 tháng 7 năm 1972, Tiểu đoàn 3 (mang mật danh K3) tỉnh đội Quảng Trị được lệnh vào Thành Cổ Quảng Trị chiến đấu. Tiểu đoàn 3 đã nhiều năm sát cánh chiến đấu với Trung đoàn 27.
Riêng tôi biết rất rõ tác phong chỉ huy dứt khoát, mưu trí, sáng tạo của Tiểu đoàn trưởng Đỗ Văn Mến và Chính trị viên Lê Binh Chủng.
Mờ sáng ngày 10 tháng 7 năm 1972, với quân số hơn 300 cán bộ, chiến sĩ, Tiểu đoàn 3 đã vượt sông Thạch Hãn đoạn làng Nhan Biều qua cổng tây vào chốt giữ bảo vệ Thành Cổ. Sở chỉ huy tiểu đoàn đặt sát tường phía trong cổng tây. Các đại đội 9, 10, 11, 12 được giao nhiệm vụ cụ thể bảo vệ bốn cổng Thành: Nam, Bắc, Tây, Đông.
Sau hơn 10 ngày lấn chiếm với hơn 20 nghìn quân tinh nhuệ và trút hàng vạn tấn bom đạn nhưng không đạt được kết quả mong muốn, Bộ chỉ huy liên quân Mỹ - ngụy ở Sài Gòn chỉ thị cho cấp dưới bằng mọi giá phải cắm cờ lên Thành Cổ trước ngày 13 tháng 7, tức là trước khi có cuộc gặp giữa phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa và Mỹ ở Hội nghị Pa-ri sau nhiều tháng gián đoạn. Mỹ hứa sẽ tăng viện đột xuất cho quân ngụy. Tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam ra lệnh điều lực lượng hải quân và không quân Mỹ đến Quảng Trị, tăng hỏa lực pháo binh và không quân không hạn chế để cho quân ngụy tiến công. Chúng còn trao giải thưởng lớn cho quân ngụy nếu cắm được cờ lên Thành Cổ, dù chỉ một lúc để chụp ảnh. Với những biện pháp khích lệ tinh thần và chi viện hỏa lực mạnh mẽ của Mỹ, quân dù và lính thủy đánh bộ ráo riết chuẩn bị vào đợt tiến công mới.
Ngót nửa tháng liên tục tiến công với sự chi viện của không quân, hải quân, pháo binh, thiết giáp, sư đoàn dù vẫn không thực hiện được ý đồ tiến vào thị xã cắm cờ lên Thành Cổ trước ngày 13 tháng 7 năm 1972. Mỹ - ngụy tìm mọi cách đẩy lùi thời gian cuộc gặp ở Pa-ri, mặt khác chúng tăng cường mật độ hỏa lực phi pháo để cắt đứt các con đường tiếp tế của ta vào thị xã và hình thành mũi tiến công từ nhiều hướng để chiếm thị xã.
Nắm được âm mưu của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương tăng cường lực lượng vào giữ thị xã.
Trung đoàn 36 Sư đoàn 308 đánh địch ở Tân Téo.
Sư đoàn 304 đánh địch ở Cầu Nhi, Bến Đá và núi Trường Phước. ở hướng đông, Trung đoàn 27 được tăng cường Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 64 và một đại đội thiết giáp đánh chặn địch không cho chúng chiếm An Tiêm, Nại Cửu ở phía đông sông Vĩnh Định cách Thành Cổ khoảng 1 ki-lô-mét. Để tăng cường lực lượng bảo vệ thị xã và Thành Cổ, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định đưa Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 64 vào phối thuộc với Trung đoàn 48. Bộ Tư lệnh chiến dịch còn tăng lượng vật chất chi viện cho thị xã từ 500 đến 600 ki-lô-gam lên 4 đến 6 tấn mỗi ngày. Hàng đêm, các đội vận tải trung đoàn, sư đoàn đã chuyển súng đạn, lương thực thuốc men, cả báo chí, thư từ hậu phương vào Thành Cổ, tiếp sức cho cán bộ, chiến sĩ ta và đưa thương binh ra phía sau điều trị.
Ngày 16 tháng 7, lữ đoàn 2 của địch, lực lượng tiên phong thực thi cắm cờ bắt đầu xung trận.
Chúng chia làm hai cánh: Cánh thứ nhất, từ ngã ba Long Hưng tiến đánh Tri Bưu, Quy Thiện, uy hiếp cổng đông Thành Cổ. Cánh thứ hai, đánh vào Tích Tường, Như Lệ hòng cắt đứt đường tiếp tế của ta cho thị xã từ hướng tây nam. ở cánh đông, sư đoàn lính thủy đánh bộ cũng mở nhiều đợt tiến công vào tuyến phòng thủ sông Vĩnh Định của Trung đoàn 27 gồm An Tiêm, Nại Cửu, Bích La Đông để phối hợp với quân dù bao vây Thành Cổ từ hướng đông và đông bắc.
|
|
|
Bộ tư lệnh chiến dịch chỉ thị cho các đơn vị trên toàn Mặt trận kiên quyết giữ vững thị xã và Thành Cổ, đập tan âm mưu "cắm cờ" của địch.
Ngày 19 tháng 7, lính dù và lính thủy đánh bộ từ hướng tây và hướng đông ồ ạt đánh chiếm các khu vực đã định. Các đơn vị của ta từ ba phía ở ngoại vi thị xã kiên cường bám trụ đánh địch.
Trong những ngày này, địch tăng cường không quân, pháo binh và hải quân, kể cả máy bay chiến lược B.52 đánh phá với cường độ rất lớn ở khắp các chiến tuyến. Không ai còn nhớ và cũng không thể nhớ được địch đã đánh phá bao nhiêu lần trong một ngày. Trên mỗi trận địa không thể biết bao nhiêu bom pháo đã rơi xuống. Chúng tôi chốt giữ Nại Cửu An Tiêm nhìn bom rơi pháo nổ ở Thành Cổ, La Vang mà lo cho đơn vị chốt giữ ở đó. Cứ sau mỗi đợt bom pháo rơi, khi nghe được tiếng súng bộ binh của ta nổ ran phía Thành Cổ là anh em chúng tôi vui mừng...
Loạt mìn định hướng ở bộ phận khóa đuôi của Đại đội 1 vang lên. Cùng lúc, sáu khẩu cối 82 ly của tiểu đoàn và Đại đội 17 tăng cường bắn dồn dập vào đội hình quân địch. Tôi lệnh cho chiến sĩ liên lạc tiểu đoàn Lê Văn Dần thổi kèn đồng phát lệnh xung phong. Bọn địch vừa bị pháo ta bắn, giờ lại nghe tiếng kèn đồng càng hốt hoảng.
Đại đội 1 chia thành hai mũi đánh từ Yên Ngựa của dãy điểm cao 322 xuống và một mũi vòng sang phía nam điểm cao 288. Đại đội 2 đuổi địch ra tận mép sông Cam Lộ.
Cả tiểu đoàn đồng loạt nổ súng. Đại đội địch đi đầu bị bao vây và tiến công từ bốn phía. Những tên lính còn sống sót cố co cụm lại để chống đỡ, chờ hai đại đội ở phía sông Cam Lộ lên giải vây.
Trước tình hình đó, tôi cho lực lượng còn lại của Đại đội 3 xuất kích và điều một trung đội cối 82 của Đại đội 4 chiếm lĩnh đỉnh 288 bắn quân địch ở phía sông Cam Lộ, tạo thế cho Đại đội 1 dứt điểm toàn bộ các cụm địch đang nằm rải rác ở phía nam điểm cao 288. Quân địch bất ngờ khi thấy cối của ta từ đỉnh 288 đánh trúng đội hình đang hành quân, chúng càng hoảng sợ khi các chiến sĩ của Đại đội 2 xuất hiện đánh từ điểm cao 288 sang.
Tiếng nổ của súng B40, B41, cối 60 ly và súng AK cộng tiếng kèn đồng thôi thúc cứ lan dần xuống bờ sông Cam Lộ, nơi chỉ huy của tiểu đoàn 3 ngụy đang tập trung lực lượng còn lại để mở đường lên căn cứ Phu-lơ.
Tôi ra lệnh.
- Lúc này phải đánh nhanh, diệt gọn, cắt hẳn con đường tăng lên Phu-lơ, làm chủ hoàn toàn khu vực 322 và 288 để đưa lực lượng xuống đường 9.
Nếu để địch điều xe tăng lên thì sẽ gây khó khăn cho ta. Phải đẩy nhanh tốc độ trận đánh, kiên quyết xóa sổ tiểu đoàn 3 ngụy ở ngay khu vực này.
Chấp hành lệnh của tôi, các đại đội đưa bộ đội chặn địch đoạn bờ sông Cam Lộ nối với trục đường tăng ở chân dãy 288, để vừa tiêu diệt sinh lực địch, vừa đánh chiếm bàn đạp cho tiểu đoàn tiếp tục thọc sâu xuống phía nam.
Tôi lệnh cho hai khẩu cối 82 của Đại đội 17 đi cùng tiểu đoàn đánh thẳng vào ban chỉ huy tiểu đoàn địch ở nam dãy 288. Các mũi tiến công của Đại đội 1 Đại đội 2 và Đại đội 3 tiếp tục hình thành thế bao vây. Đại đội 4 và Đại đội 17 tăng cường chuẩn bị sẵn phần tử nhằm tiêu diệt gọn quân địch.
Trận chiến đấu bước vào giai đoạn quyết định là tiêu diệt hoàn toàn lực lượng còn lại của tiểu đoàn 3 ngụy đã chuẩn bị xong. Địch vừa lùi vừa chống trả chờ quân phía sau lên chi viện. Nhưng chúng không ngờ rằng vòng vây đang bị cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 3 chúng tôi xiết chặt. Tôi lệnh cho cối 821y bắn cấp tập vào đội hình quân địch. Khi đạn cối chuyển làn về phía nam sông Cam Lộ, cả tiểu đoàn được lệnh xung phong. Lê Văn Dần lại thổi kèn đồng, các loại hỏa lực B40, B41, đại liên bắn quyết liệt, dồn quân địch ra tận bờ sông Cam Lộ. Chiến sĩ Nguyễn Việt Mão, Đại đội 1 đã bắt được 12 tù binh, trong đó có tên thiếu tá Hà Thúc Mẫn, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 ngụy. Tiểu đoàn tôi đã làm chủ hoàn toàn khu vực phía đông nam căn cứ Phu-lơ và Đồi Tròn, chặn đứng lực lượng chi viện phía sau của địch, cắt rời thế liên hoàn của căn cứ Phu-lơ, Đồi Tròn với Cam Lộ và căn cứ 241. Cùng lúc đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch phát lệnh nổ súng chiến đấu hiệp đồng trên toàn Mặt trận, đó là 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 3 năm 1972.
Hàng chục trận địa pháo binh với hàng trăm khẩu pháo các loại cùng gầm lên một lúc như sấm rền chớp giật. Ngay từ phút đầu, pháo binh ta đã bắn trúng hàng loạt các múc tiêu quy định, dìm đầu quân địch tạo điều kiện cho bộ binh và xe tăng áp sát mục tiêu.
Giai đoạn một của chiến dịch đã bắt đầu. Tất cả các căn cứ địch nằm trong hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra đều rung lên trong tiếng nổ của các loại đạn pháo chiến dịch giáng xuống.
Sau này, tôi được Tư lệnh chiến dịch - Tướng Lê Trọng Tấn gặp, ông hỏi: - Theo quy định, chiến dịch mở màn vào lúc 11 giờ 30, tại sao tiểu đoàn của cậu lại nổ súng lúc 10 giờ 30 phút? Tôi trả lời: - Trong chiến đấu có những tình huống xảy ra không thể lường hết được. Cả tiểu đoàn địch hành quân từ Cam Lộ lên thay quân cho cứ điểm Phu-lơ lọt hẳn vào trận địa phục kích của tiểu đoàn. Lúc đó tôi suy nghĩ rất nhiều, đánh hay không? Đánh thì "phạm quy", mà không đánh thì bỏ lỡ thời cơ diệt địch. Hơn nữa nếu để tiểu đoàn 3 ngụy lên được căn cứ Phu-lơ thì gây khó khăn cho Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 của ta, nên tôi quyết định vừa báo cáo vừa ra lệnh cho nổ súng và sẵn sàng chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Tướng Lê Trọng Tấn vui vẻ: - Quyết định của cậu là chính xác, phù hợp với suy nghĩ của Bộ Tư lệnh chiến dịch. Khi được anh Kim Hùng, Trưởng phòng Quân báo chiến dịch báo cáo: "Trung đoàn 56 thay quân ở căn cứ Phu-lơ". Tôi cho rằng, đây là thời cơ nổ súng tốt nhất bảo đảm bất ngờ, vừa đạt hiệu suất chiến đấu cao vừa tạo điều kiện thuận lợi cho Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 tiến công căn cứ Phu-lơ và Đồi Tròn - một mục tiêu quan trọng mà Bộ Tư lệnh chiến dịch giao cho Trung đoàn 27. Hơn nữa, địch chưa biết kế hoạch tiến công lớn của ta...
Theo mệnh lệnh hiệp đồng, Tiểu đoàn 2 do Tiểu đoàn trưởng Bùi Xuân Các, Chính trị viên Lê Văn Dưỡng, Tiểu đoàn phó Hoàng Kỳ và Chính trị viên phó Nguyễn Xuân Kỳ chỉ huy lần lượt đánh chiếm các mỏm Đ1, Đ2, Đ3 và Đ4 ở phía bắc căn cứ Phu-lơ làm bàn đạp. Đại đội 5 đã chiếm xong đồi Đ2. Đại đội 6 đang tiến đánh đồi Đ1. Hướng tiến công chủ yếu của Tiểu đoàn 2 đang phát triển thuận lợi.
Quân địch trong căn cứ Phu-lơ và Đồi Tròn rất hoang mang khi biết tin tiểu đoàn 3 của chúng đã bị tiêu diệt ở điểm cao 322 và điểm cao 288. Trung đoàn trưởng Phạm Minh Tâm ra lệnh cho pháo, cối bắn phá căn cứ Phu-lơ, và chỉ thị cho Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Bùi Xuân Các tranh thủ thời cơ mở cửa tiêu diệt căn cứ này. Tiểu đoàn 2 dùng một bộ vũ khí FR mở một cửa ở hướng tây bắc căn cứ và tập trung lực lượng đột kích mạnh vào hướng đó, giảm bớt thời gian vây lấn phía ngoài.
Cối 160 lắp ngòi nổ chậm và cối 1201y của ta tiếp tục bắn phá công sự, hầm ngầm của địch, tiêu diệt một phận sinh lực của chúng trên đỉnh căn cứ Phu-lơ. Trong khi đó ở hướng tây, ta thiết bị xong bộ vũ khí FR để phá rào và ở hướng bắc, Đại đội 5 chuẩn bị sẵn sàng hai khẩu súng phun lửa để đánh phối hợp.
22 giờ 30 phút ngày 30 tháng 3 năm 1972, trinh sát trung đoàn báo về cho chỉ huy Tiểu đoàn 2: Địch ở xung quanh căn cứ Phu-lơ đang rút chạy.
Tiểu đoàn trưởng Bùi Xuân Các ra lệnh cho Đại đội công binh mở cửa bằng vũ khí FR. Trời tối, thi thoảng pháo sáng địch bắn lên cháy le lói trên bầu trời căn cứ Phu-lơ. Cả Đại đội 6 sẵn sàng nằm trước cửa mở theo đội hình tiến công. Mỗi người giắt sau lưng một mẩu gỗ có chất lân tinh phát sáng để dễ nhận ra nhau.
Chiến sĩ công binh Nguyễn Văn Thành cho tổ vượt lên, anh kiểm tra lại nụ xòe lần cuối cùng rồi điểm hỏa vũ khí phá rào FR. Những khối bộc phá ống được liên kết, bay vùn vụt nổ ầm ầm trên mặt đất. Hàng rào địch bị phá bung. Toàn bộ đội hình của Đại đội 6 vượt qua cửa mở, tiến sâu vào căn cứ địch. Quân địch trong căn cứ Phu-lơ đang hoảng hốt trước "rồng lửa" của ta dùng mở cửa ở hướng tây lại càng hoảng hốt hơn khi hướng bắc, hai khẩu súng phun lửa của Đại đội 5 do Đại đội trưởng Phạm Xuân Ngạn chỉ huy, kết hợp với B40, B41 áp sát bắn xối xả vào căn cứ. Các chiến sĩ bộ binh luồn qua lớp rào đánh vào sở chỉ huy địch. Cả Đại đội 6 và Đại đội 5 xung phong đánh chiếm các mục tiêu trong căn cứ Phu-lơ. Một đại đội địch còn lại trong căn cứ bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh. Xác lính ngụy nằm rải rác khắp trận địa pháo, giàn ra-đa, hầm ngầm, lô cốt. Chỉ sau hơn 10 phút chiến đấu, một mũi của Đại đội 6, Tiểu đoàn 2 do Chính trị viên phó Nguyễn Xuân Kỳ (quê anh ở thôn Đông, Vinh Thịnh, Vinh Lộc, Thanh Hóa) chỉ huy đã cắm lá cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng lên nóc hầm chỉ huy của căn cứ địch.
Căn cứ Phu-lơ đã thuộc về ta, mắt xích quan trọng trong hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra bị chặt đứt hoàn toàn.
Trên hướng Tiểu đoàn 1, vẫn chưa thấy đánh Đồi Tròn, Trung đoàn trưởng Phạm Minh Tâm nêu vấn đề với Chính ủy Nguyễn Võ Hiển: - Không đánh Đồi Tròn, địch sẽ chạy hết về Đầu Mầu hoặc tập trung lực lượng để phản kích chiếm lại căn cứ Phu-lơ. Lần trước, trung đoàn đã chiếm được Phu-lơ, nhưng cuối cùng lực lượng địch từ Đồi Tròn đã phản kích sang chiếm lại. Các trận chiến đấu diễn ra còn gay go, quyết liệt hơn lúc tiêu diệt lần đầu. Do vậy tôi quyết định cho Tiểu đoàn 2, chỉ để lại một bộ phận chất giữ Phu-lơ, còn đại bộ phận tiếp tục đánh sang Đồi Tròn. Đồng thời tăng cường cho Tiểu đoàn 2 một phân đội công binh và chuyển bộ FR từ đồi Đ1 sang Đồi Tròn mở cửa từ hướng bắc. Mặt khác, phái trinh sát bắt liên lạc với Tiểu đoàn 1 để đánh phối hợp với Tiểu đoàn 2 bao vây, đón lõng phía tây nam, cắt đứt Đồi Tròn với Đường 9.
Ý kiến của Trung đoàn trưởng được Chính ủy nhất trí, nhiệm vụ được triển khai, tất cả phải chuẩn bị xong trước 5 giờ sáng ngày 31 tháng 3 năm 1972.
Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, chưa kịp nghỉ ngơi đã được lệnh trở lại đồi Đ1 để chuyển bộ FR sang Đồi Tròn. Sau 3 giờ vận chuyển, Đại đội 6 và phân đội công binh trung đoàn do chủ nhiệm công binh Trần Hữu Mỹ trực tiếp chỉ huy đã đưa bộ FR triển khai chuẩn bị mở cửa Đồi Tròn.
5 giờ ngày 31 tháng 3, sau khi phân đội công binh điểm hỏa bộ "rồng lửa" thứ hai, mở cửa căn cứ Đồi Tròn, Đại đội 6 và Đại đội 5 chia làm hai mũi đánh thẳng vào căn cứ. Cùng lúc, các trận địa pháo, cối của trung đoàn được lệnh bắn phá căn cứ Đầu Mầu nằm trên Đường số 9, nhằm làm tê liệt căn cứ này, không cho chúng ra ứng cứu Đồi Tròn.
|
|
|
Thời gian này, Trung đoàn 27 được bổ sung gần một trăm tân binh, quá nửa trong số này là sinh viên các trường đại học Tổng hợp, Bách khoa. Số còn lại là công nhân viên chức các cơ quan ở Hà Nội vừa được động viên. Khối tận binh này thể hiện rõ hai thái cực, một bên: chín chắn, từng trải; một bên: vô tư, hồn nhiên, thông minh và đầy sáng tạo.
Buổi chiều, tân binh được biên chế ngay về các đơn vị và bước vào trận địa chốt ngay.
Tôi được Phạm Quang Hùng, quê ở số 10 Hoàng Hoa Thám, Hà Nội là chiến sĩ Đại đội 16 - Súng 12 ly 7 trung đoàn kể lại: "Vừa chân ướt chân ráo đến đơn vị tôi được một người tự giới thiệu là Trần Đại Giảng người Quỳnh Lưu, Nghệ An, trung đội trưởng Trung đội 3 phân công tôi về khẩu đội 6, Trung đội 3 súng 12 ly 7. Khẩu đội phó tên là Ngoạn, người Nghi Lộc, Nghệ An nói rất khó nghe. Khi anh nói phải phiên dịch thì các sinh viên chúng tôi mới hiểu được. Một lát sau, anh Giảng nói với đám tân binh: Ai xung phong lên chốt ngay bây giờ! Chẳng biết chốt là gì, tôi và mấy cậu thư sinh giơ tay. Anh Giảng dẫn chúng tôi đi khoảng vài trăm mét là tới. Chúng tôi ở cách trận địa bộ binh gần 200 mét. Mấy hôm trước các đơn vị của Sư 325 chốt ở đây cây cối còn xanh tốt, thế mà khi Trung đoàn 27 vào thay có mấy ngày bom pháo chém nát chẳng còn cây nào nguyên vẹn. Đêm đầu tiên lên chốt, vì trời mưa to ta và địch không nổ súng. Nhưng do mưa nhiều hầm hào ngập nước chẳng ai ngủ được Sáng ra, mở ba lô thấy cái gì cũng bị thấm nước, anh em sinh viên ai cũng buồn phát khóc.
Anh khẩu đội trưởng động viên an ủi và giúp chúng tôi phơi hong các thứ. Đây là kỷ niệm lần đầu ở chốt.
Mấy ngày sau, trời hửng nắng, địch liền mở nhiều đợt tiến công giành lại chốt bị mất hôm trước.
Được pháo binh, không quân, thiết giáp yểm trợ, có ngày địch chiếm được một vài vị trí của ta. Nhưng đến đêm ta lại tập kích giành lại. Cứ thế ngày qua ngày ta và địch giằng co với nhau. Phía ta là Trung đoàn 27 của Mặt trận B5, phía địch là lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ - lực lượng dự bị chiến lược của quân ngụy Sài Gòn. Trung đoàn 27 mới vào thay cho Sư đoàn 325 thì sáng hôm sau đã thấy lính thủy đánh bộ la lên: "Lại đụng thằng 27 rồi, ngán quá đi!" Phạm Quang Hùng kể tiếp: "Vào một buổi sáng trời quang mây, chỉ huy đơn vị cảnh báo hôm nay thế nào địch cũng lấn chốt, anh em phải sẵn sàng.
Tôi lúc đó là pháo thủ số 2. Pháo thủ số 1 là anh Bá người Nghĩa Đàn, Nghệ An. Nhận được lệnh, khẩu đội sẵn sàng, đạn đã lên nòng. Tôi tranh thủ lắp thêm một băng đạn nữa để ngoài thùng. Thường thì chúng tôi ở chốt hay hạ nòng súng xuống bắn khi địch liều lĩnh tràn lên lấn chốt bộ binh. Tiếng réo và tiếng va chạm của đạn 12 ly 7 vào thành xe thiết giáp nghe chát chúa nên địch rất ngán không dám xông lên. Nhưng ngay sau đó, thì cánh 12 ly 7 chúng tôi cũng phải hứng chịu những trận pháo, cối của địch.
Lại nói về cái buổi sáng hôm đó. Mọi lần sáng ra chúng cho máy bay, pháo binh bắn phá ác liệt rồi bộ binh xông lên lấn dũi, nhưng sáng đó pháo binh địch chưa bắn đã có hai chiếc trực thăng UH.1Aa bay vè vè sát ngọn tre. Cái trước, cái sau quần đi quần lại hình như chúng thị sát chứ không lượn sang phía chốt ta bắn phá. Trung đội trưởng Giảng hạ lệnh cho khẩu đội 5 hạ nòng ngắm bắn chiếc đi đầu và khẩu đội 6 của tôi hạ nòng ngang tầm chiếc trực thăng bay sau để ngắm bắn. Chờ đúng lúc hai chiếc trực thăng quần trở lại ngay sát tầm bắn hiệu quả nhất của hai khẩu đội, trung đội trưởng hô một tiếng to: Bắn! Hai khẩu 12 ly 7 xả một tràng đạn dài đinh tai. Vì cự ly quá gần so với tầm bắn của súng 12 ly 7 nên cả hai chiếc trực thăng đều trúng đạn. Chiếc thứ nhất bốc cháy rơi ngay tại chỗ, cách chốt bộ binh ta khoảng hơn 300 mét. Chiếc thứ hai cố gượng vọt lên, nhưng qua rặng tre bên trong chất địch cũng chao qua chao lại rơi xuống bốc lên một đụn khói đen đặc. Lập tức pháo các cỡ của địch bắn về phía trận địa chúng tôi. Nhưng lạ thay, sau trận pháo kích ấy bộ binh địch không nống lên phía trận địa của ta. Pháo, cối địch bắn cấp tập như vậy mà không ai việc gì, chỉ nòng súng khẩu đội 5 bị mảnh pháo làm cong sang một bên. Trung đội trưởng Giảng cho tháo nòng pháo đưa về tuyến sau xin thay nòng mới. Khi được báo cáo về trận đánh, ban chỉ huy đại đội ngay tối hôm đó cho trung đội khác lên thay trung đội tôi.
Đêm đến, nhân ban chỉ huy đại đội giao ban, rồi hội ý chi ủy, cậu liên lạc đã lén đưa cái đài Liđô của chính trị viên sang hầm tụi tôi dò đài BBC nghe tin tức. Cái trò này chỉ đám sinh viên Hà Nội mới dám làm. Đài BBC đưa tin: "Sáng nay quân Bắc Việt đã bắn hạ hai chiếc trực thăng chở bộ tham mưu sư đoàn thủy quân lục chiến (lính thủy đánh bộ) của quân lực Việt Nam cộng hòa đang thị sát vùng giáp ranh Mặt trận Quảng Trị". Bọn tôi mừng rú, nhưng chẳng ai dám hé răng vì đó là tin từ đài BBC. Rồi chúng tôi chẳng phải chờ lâu, một tuần sau trung đoàn báo về Trung đội 3 được khen thưởng. Trung đội trưởng và hai xạ thủ số 1 được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba, còn tất cả anh em hai khẩu đội chúng tôi được tặng bằng khen của Bộ Tư lệnh Mặt trận B5".
Nhân đây tôi nói về các phóng viên chiến trường.
Báo Quân đội nhân dân có các anh Khánh Vân, Vương Sĩ Đình, Từ Liên, Tô Văn... Đặc biệt, anh Đoàn Công Tính (bí danh là Huỳnh Tấn Công) đã theo đơn vị của tôi từ chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Đầu tháng 5 năm 1972, Đoàn Công Tính còn chụp ảnh khi tôi còn là Đại đội trưởng và Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 27 đang bàn phương án bảo vệ Thành Cổ ở Thị Ông, cánh đông thị xã Quảng Trị. Hôm gặp tôi anh Tính bảo: - Tôi đã đưa được vào ống kính những hình ảnh của bộ đội ta đánh sụp hàng rào điện tử Mác Na- ma-ra, ghi được hình ảnh của anh sau khi diệt đoàn xe 28 chiếc. Giờ đây tôi phải có hình ảnh chiến sĩ ta chiến đấu ở Thành Cổ. Cả nước muốn nhìn thấy họ sống ra sao dưới pháo bầy, bom chùm và bom rải thảm của B.52 Mỹ. Tôi đã từng chụp lúc Thành Cổ mới giải phóng, dinh tỉnh trưởng còn nguyên vẹn.
Còn đây là Thành Cổ ngày 16 tháng 8 năm 1972, dinh tỉnh trưởng đã nát tan tành và Thành Cổ cũng sụp đổ. Chỉ còn nụ cười của những người chiến sĩ bảo vệ Thành Cổ là nguyên vẹn và rạng rỡ. Anh em nói khi tôi đưa ống kính lên: "Có thể mai đây một số anh em chúng tôi không còn nữa. Nhưng Thành Cổ sẽ sống mãi với lịch sử vinh quang của đất nước".
Anh Hiệu thấy không? Từ lời nói thiêng liêng như lời di chúc, tôi cũng cảm thấy trách nhiệm nặng nề. Trước khi rời Thành Cổ mang tài liệu, phim ảnh về Hà Nội, tôi đã viết một lời "'Di chúc", phỏng theo lời chiến sĩ: "Nếu chẳng may tôi hy sinh trên đường ra Hà Nội, xin nhờ mang hộ mười cuốn phim này về giao cho Tòa soạn Báo Quân đội nhân dân. Đây là hình ảnh của những người con quê hương Quảng Trị và cả nước, họ đã chiến đấu anh dũng bảo vệ Quảng Trị, những nụ cười bất diệt của họ sẽ sống mãi với Thành Cổ anh hùng".
Nghe anh Đoàn Công Tính kể, trong tôi trào dâng niềm cảm phục người phóng viên chiến trường của Báo Quân đội nhân dân đã theo bước chân của chiến sĩ bộ binh chúng tôi đến những nơi ác liệt nhất của cuộc chiến để ghi lại những khoảnh khắc sinh động của chiến tranh. Anh đã dành cho tôi nhiều tấm ảnh suốt mấy năm anh theo chúng tôi chiến đấu để ghi lại một thời Quảng Trị mà tôi còn giữ mãi đến tận bây giờ...
Cuộc chiến đấu vào những ngày cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm 1972 càng diễn ra quyết liệt. Mỹ - ngụy dùng âm mưu phong tỏa thị xã Quảng Trị bằng hỏa lực để phá vỡ các tuyến chốt bảo vệ thị xã của ta, đồng thời cho sư đoàn lính thủy đánh bộ lấn dũi. Hành động ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần.
Chúng hy vọng với ưu thế vượt trội về hỏa lực, lực lượng của ta trên các trận địa chốt sẽ bị tiêu hao dần và cuối cùng sẽ bị đẩy ra khỏi các trận địa và toàn bộ thị xã. Mật độ bom pháo địch dày đặc.
Đứng ở các mỏm đồi phía tây ái Tử nhìn sang thị xã chỉ nghe thấy tiếng động ầm ầm dội sang không ngớt, khói bụi bốc cao mù trời. Cả vùng thị xã kéo dài xuống tận biển đã trở thành một vùng bình địa đổ nát.
Cả nước hướng về Quảng Trị, hướng về Thành Cổ, dành cho chiến sĩ bảo vệ ở đây tất cả niềm tin yêu Từ hậu phương miền Bắc, mỗi chuyến hàng vào Quảng Trị bên cạnh gạo, đạn, thuốc men, còn có các sản phẩm của quê hương từ trăm miền gửi tới Trong đó có những lá thư của những người mẹ, người chị, người em và người yêu gửi vào tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, chiến sĩ ta trụ vững trên vùng đất nóng bỏng này, xứng đáng với lòng tin yêu của Đảng và nhân dân dành cho.
Để đánh bại âm mưu nham hiểm của địch, phá thế bao vây thị xã Quảng Trị và Thành Cổ, Tư lệnh chiến dịch - Tướng Lê Trọng Tấn chỉ thị mở đợt phản kích mới nhằm chiếm lại một số vị trí chiến thuật quan trọng vừa bị mất. Cụ thể: Sư đoàn 308 giữ vững các vị trí La Vang, Tích Tường, Như Lệ, đồng thời đánh chiếm ngã ba Long Hưng, ngã tư Thạch Hãn, đánh bật địch ra khỏi phía nam thị xã.
Các Trung đoàn 95, 48 và các Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn 8 (tỉnh đội Quảng Trị) tiếp tục giữ vững vị trí đứng chân tổ chức các phân đội đánh phản kích, quyết không cho địch lấn cài răng lược. Hai Trung đoàn 27 - Mặt trận B5 và 101 kiên quyết đánh địch ra khỏi chợ Sải, Nại Cửu, nếu có thời cơ đánh xuống Bích La.
Thực hiện quyết tâm của Tư lệnh chiến dịch, bộ đội ta trên từng hướng tích cực làm công tác chuẩn bị sẵn sàng đợi lệnh xuất kích. Sư đoàn 308 sau một đêm vượt qua nhiều tọa độ lửa của địch đã áp sát ngã ba Long Hưng và ngã tư Thạch Hãn. Mờ sáng, pháo chiến dịch của ta bất ngờ bắn phá vào các cụm quân của một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ ở ngã ba Long Hưng và ngã tư Thạch Hãn. Đợt bắn pháo vừa dừng, các chiến sĩ Sư đoàn 308 đồng loạt xung phong. Trước sức tiến công của ta, lính thủy đánh bộ ngụy chống trả yếu ớt rồi tháo chạy. Quân ta nhanh chóng củng cố trận địa vừa chiếm được.
Nhưng, mấy ngày sau đó địch cho máy bay, pháo binh đánh phá vôi cường độ cao và dùng 2 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ từ đường 1 đánh ra, từ An Thái đánh sang, bộ đội ta bị thương vong nhiều phải lui về tuyến sau.
Riêng ở hai làng Tích Tường và Như Lệ ta vẫn tổ chức đánh phản kích tốt, trận địa được giữ vững.
ở hướng đông, Trung đoàn 27 sử dụng Tiểu đoàn 2 tiến công cụm lính thủy đánh bộ chốt giữ ở thôn Bích La Trung, Nại Cửu Bắc và một phần Nại Cửu Nam. Sau nửa ngày chiến đấu, được pháo chiến dịch chi viện, Tiểu đoàn 2 đã đột phá liên tục làm chủ được trận địa. Nhưng đến khi chốt giữ, do quân số hao hụt nhiều, sức chiến đấu giảm, địch đã phản kích chiếm lại được.

|
|
|
Tham gia : 02-12-2008
Bài viết: 16
Đã cảm ơn: 0 Đuợc cảm ơn 1 lần với 1 bài viết
|
|
Trong trận chiến đấu ở Nại Cửu xã Triệu Thành ngày 23 tháng 8 năm 1972, Tiểu đoàn 2 có 13 chiến sĩ hy sinh là Trần Anh Châu, quê Lạng Sơn, Đỉnh Sơn, Anh Sơn, Nghệ An; Phạm Đức Nhi, quê xóm 12 Thanh Hà, Thanh Chương, Nghệ An; Nguyễn Đình Nam, quê Thủy Phong, Thanh Thủy, Thanh Chương, Nghệ An; Nguyễn Đình Linh, quê Đội 12 Thanh Khai, Thanh Chương, Nghệ An; Nguyễn Hữu An; Nguyễn Văn Luyện, quê Diên Hồng, Hưng Đông, Hưng Nguyên, Nghệ An; Nguyễn Duy Hùng, quê Đội 15, Thanh Hương, Thanh Chương, Nghệ An; Bùi Văn Quế, quê Đội 13 Thanh Mai, Thanh Chương, Nghệ An; Lê Quang Hưng, quê Đội 7, Nghi Phú, Nghi Lộc, Nghệ An; Nguyễn Hữu Quê, quê Xóm 2, thị trấn Nam Đàn, Nghệ An; Nguyễn Quang Giáp, quê Đội 5, Thanh Lâm, Thanh Chương, Nghệ An; Lê Văn Hiền, quê Thanh Minh, Đức Sơn, Anh Sơn, Nghệ An; Bùi Văn Quế, quê Đội 3, Thanh Mai, Thanh Chương, Nghệ An.
Đến ngày 28 tháng 8 năm 1972, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 27 - Mặt trận B5 giữ chốt ở Nại Cửu xã Triệu Thành, lại có bảy chiến sĩ nữa ngã xuống, đó là Nguyễn Hồng Sách, quê Quang Liên, Nghi Quang, Nghị Lộc, Nghệ An; Đinh Văn Hòe, quê Phú Hậu, Diễn Tân, Diễn Châu, Nghệ An; Phan Văn Đệ, quê Đội 4, Mậu Lâm, Nghi Lộc, Nghệ An; Thái Ngọc Cư, quê Tân Đức, Tiến Thủy, Quỳnh Lưu, Nghệ An; Trương Văn Thắng, quê Minh Lam, Nghĩa Minh, Nghĩa Đàn, Nghệ An; Lê Công Xứng, quê xóm Quang Liên, Nghi Quang, Nghi Lộc, Nghệ An và Nguyễn Đình Thi, quê Đội 12, Nghi Long, Nghi Lộc, Nghệ An.
Bước sang tháng 9 năm 1972, cuộc hành quân "tái chiếm Quảng Trị" của sư đoàn lính thủy đánh bộ và sư đoàn dù vẫn không cải thiện được tình hình. Nhưng với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, Mỹ - ngụy không từ bỏ ý định lấn chiếm mà ngày càng lấn sâu hơn vào cuộc chiến đẫm máu này.
Ngày 7 tháng 9, quân đoàn 1 ngụy quyết định tăng cường cho sư đoàn lính thủy đánh bộ và sư đoàn dù, liên đoàn biệt động quân số 1 và số 7, thiết đoàn xe bọc thép 17, một chi đội pháo binh và một số súng phun lửa M.125, quyết chiếm bằng được thị xã.
Về phía ta, Bộ Tư lệnh chiến dịch tăng thêm lực lượng chốt giữ thị xã, đồng thời chỉ đạo các đơn vị đánh phản kích, phản đột kích đẩy địch ra xa lấy lại Long Hưng, nam sông Nhùng. Công tác chuẩn bị cho đợt tiến công mới đang được khẩn trương thì mấy cơn bão rồi áp thấp nhiệt đới đổ vào miền Trung. Nước sông Thạch Hãn dâng lên tràn bờ, nước chảy cuồn cuộn, cả thị xã ngập chìm trong nước. Hầm hào nhão nhoét, ngập ngụa gây khó khăn cho các đơn vị bám trụ chiến đấu. Lúc này, tình hình càng trở nên vô cùng khó khăn. Anh em hy sinh, đồng đội cũng chỉ biết lấy xẻng, lấy tay bới đất để lấp lên. Hôm sau, bom pháo địch lại đánh vào lật tung. Anh em lại thu gom các phần thi thể đồng đội rồi chôn lại. Thương binh nặng không thể đưa ra được qua sông Thạch Hãn.
Thương binh nhẹ mười người qua sông thì một nửa bị nước cuốn.
Lợi dụng thời tiết xấu, địch dốc sức mở đợt tiến công lớn vào hầu hết các hướng chốt giữ và các hướng phản kích của quân ta. Suốt 48 giờ liền chúng bắn phá dữ dội vào tất cả các trận địa của ta nhất là xung quanh Thành Cổ, cắt các tuyến đường vận chuyển, các bến vượt sông. Máy bay B.52 ném bom rải thảm, máy bay B.57 trút bom tọa độ hai bờ nam bắc sông Thạch Hãn, nhiều nhất là khu ái Tử, Nhan Biều và các trận địa hỏa lực của ta. Trời càng mưa to, nước lũ càng lớn, địch càng tập trung bom đạn đánh phá dữ dội. Để bám trụ giữ chất, chiến sĩ ta vừa thay nhau tát nước chống ngập, vừa đánh trả những đợt tiến công của địch. Tuy nhiên, do trận địa bị ngập lâu, bom đạn địch lại liên tục giội xuống, hầm hào bị hủy hoại nặng nề nên ta không duy trì được một số chốt quan trọng trên hướng đông nam và hướng tây bắc thị xã. Cuối cùng, quân địch đã nối liền được các khu vực với nhau, tạo ra áp lực với Thành Cổ.
Tình hình diễn ra vô cùng gay go, căng thẳng, ác liệt. Số thương vong của các đơn vị ngày một nhiều thêm (Tôi nắm được qua phòng quân lực mặt trận trung bình một ngày số thương vong lên tới hơn một trăm người). Tuy có tới 8 tiểu đoàn bộ binh bám trụ chiến đấu trong nội thị, nhưng thực tế nhiều tiểu đoàn lúc này số tay súng không quá 50.
Hỏa lực chi viện cho thị xã giảm dần. Các mạng đường tiếp tế qua sông bị địch chặn đánh quyết liệt, lại bị bão lũ nên gặp rất nhiều khó khăn.
Mặc dù gặp muôn vàn khó khăn, ác liệt và gian khổ như vậy, nhưng toàn thể cán bộ, chiến sĩ trên Mặt trận Quảng Trị vẫn bám trụ kiên cường bằng ý chí sắt đá, vượt lên bom đạn của quân thù và cả những vất vả do thời tiết gây nên, sẵn sàng chấp nhận hy sinh giữ vững vùng giải phóng Quảng Trị.
Tôi được biết, ngày 15 tháng 9 năm 1972, một ngày cận chiến cực kỳ quyết liệt của toàn bộ các chiến sĩ giữ Thành Cổ với sư đoàn lính thủy đánh bộ. Quân địch từ hai hướng đông nam và đông bắc Thành Cổ được sự chi viện của hỏa lực xe tăng, thiết giáp, xe phun lửa, pháo cối... ồ ạt xông lên đột phá vào hai cổng thành. Buổi sáng, một vài trung đội địch lọt được vào cổng thành, nhưng sau đó đã không trụ nổi với các loại vũ khí của ta là súng 12 ly 7, cối 82, ĐKZ 75... Các loại vũ khí này đặt từ góc tây tây bắc thành bắn mãnh liệt buộc chúng phải rút ra khỏi thành. Địch cho pháo binh bắn phá dữ dội vào trận địa hỏa lực của ta. Pháo địch đào đi, xới lại gây thương vong cho cán bộ, chiến sĩ các đơn vị giữ thành. Sức chiến đấu của ta giảm dần, chiều tối quân địch lại kiểm soát được hai cổng thành.
Xét thấy điều kiện chiến đấu bảo vệ Thành Cổ không thuận lợi, Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị rút khỏi thị xã và Thành Cổ.
Từ 1 giờ đến 3 giờ sáng ngày 16 tháng 9 năm 1972 các đơn vị đã tổ chức rút khỏi thị xã và Thành Cổ an toàn.
Trải qua 81 ngày đêm chiến đấu ở thị xã và Thành Cổ Quảng Trị, quân và dân ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn ác liệt, bám trụ kiên cường, chiến đấu với lực lượng sừng sỏ, thiện chiến nhất của quân ngụy Sài Gòn được sự yểm trợ hỏa lực chưa từng có trong lịch sử chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Đông Dương. Để đứng vững và duy trì cuộc chiến đấu bảo vệ thị xã và Thành Cổ, quân và dân Quảng Trị đã nắm chắc tình hình địch, nhanh chóng khắc phục những lúng túng ban đầu, tổ chức đánh phản kích ngăn chặn quân địch từng bước, tiến tới việc xác định tổ chức hệ thống trận địa phòng ngự liên hoàn, giữ vững thế trận, tiến lên đánh lui các đợt tiến công của chúng. Các đơn vị đã kết hợp tốt giữa phòng ngự và tiến công, phối hợp chặt chẽ ba thứ quân đánh địch cả phía trước lẫn phía sau, cả cánh đông và cánh tây tạo nên sức mạnh tổng hợp phá tan ý đồ của chúng ngay từ đầu, nhất là vào những thời điểm mà cuộc đấu tranh ngoại giao giữa ta và Mỹ ở Hội nghị Pa-ri đang giẫm chân tại chỗ do sự ngoan cố của phía Mỹ.
Đối với Trung đoàn 27 - Mặt trận B5, lực lượng chủ yếu ở cánh đông, đã cùng với các đơn vị bạn thực hiện phương châm: Liên tục tiến công, liên tục phản kích, ngăn.chặn từng bước, chia cắt, giam chân, thu hút địch, tiến tới chặn đứng cuộc hành quân tái chiếm thị xã và Thành Cổ trong thời gian gần ba tháng trời.
Với thành tích đặc biệt xuất sắc, ngày 20 tháng 12 năm 1973, Trung đoàn 27 (Đoàn Triệu Hải) đã được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Trong lời tuyên dương Trung đoàn 27 có đoạn: 'Từ năm 1968 đến 1972 trung đoàn chiến đấu liên tục ở chiến trường Quảng Trị. Trung đoàn đã chiến đấu với nhiều đơn vị tinh nhuệ của Mỹ, ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu gần 2 vạn tên địch (có hàng nghìn tên Mỹ), diệt và đánh thiệt hại 20 tiểu đoàn, 31 đại đội (có sáu tiểu đoàn và năm đại đội Mỹ), bắn rơi 279 máy bay, phá hủy 440 xe quân sự (một phần ba là xe tăng, xe bọc thép), 41 khẩu pháo từ 105 đến 155 ly, ba giàn ra-đa, thu hơn 800 súng các loại...
Đặc biệt, trong chiến dịch giải phóng Quảng Trị từ ngày 30 tháng 3 đến tháng 12 năm 1972, Trung đoàn 27 là lực lượng nổ súng đầu tiên, mở màn chiến dịch và là lực lượng chủ yếu ở hướng đông.
Đơn vị đã vận dụng linh hoạt nhiều hình thức chiến thuật tiến công mãnh liệt, táo bạo thọc sâu, cơ động nhanh, trụ bám kiên cường, hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị bạn chiến đấu đạt hiệu suất cao... góp phần vào thắng lợi chung trên Mặt trận Quảng Trị".
Tháng 10 năm 1972, Hội nghị Pa-ri về Việt Nam đang ở giai đoạn quyết định. Anh Trịnh Ngọc Thái là thành viên của Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ cộng hòa tại Hội nghị từ đầu cho đến khi kết thúc.
Sau này anh tâm sự: Lịch sử của dân tộc ta qua hàng nghìn năm đấu tranh chống ngoại xâm đã. cho ta một bài học, đó là một nước nhỏ chống sự xâm lược của một nước lớn, về tương quan lực lượng không cho phép ta giành thắng lợi bằng cách tiêu diệt hoàn toàn lực lượng quân sự của đối phương.
Cách tốt nhất là làm sao đánh bại ý chí xâm lược của chúng, buộc chúng phải rút quân ra khỏi nước ta. Đây cũng là điều ông cha ta đã làm để chống lại sự xâm lược của phong kiến phương Bắc trong suốt nghìn năm. Chúng ta đã thắng thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ và ở Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954.
Ta phải biết phát huy thế mạnh của ta là chính nghĩa, khoét sâu thế yếu của địch là xâm lược, phi nghĩa thì mới tạo được thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta. Phát huy sức mạnh tổng hợp ở mức cao nhất để đánh thắng quân thù chính là điều thần kỳ trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng là những luận cứ khoa học của kế sách "vừa đánh vừa đàm".
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cho thấy, muốn buộc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán phải giáng cho chúng những đòn thật đau ở chiến trường. Cuộc tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 là đòn giáng mạnh vào ý chí xâm lược của chúng, làm đảo lộn thế chiến lược, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, tạo nên bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh. Chính trong hoàn cảnh bối rối, khó khăn, thất bại ấy lại là lúc bầu cử tổng thống Mỹ, nên ngày 31 tháng 3 năm 1968 tổng thống Mỹ Giôn-xơn phải tuyên bố.

|
|
|
Đuợc cảm ơn 1 lần với 1 bài viết
|
|
- Một là, Mỹ đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra.
- Hai là, Mỹ nhận nói chuyện với Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa để tìm giải pháp cho vấn đề Việt Nam.
- Ba là, không ra tranh cử nhiệm kỳ 2 tổng thống nước Mỹ.
Đây là lời thừa nhận đầy đủ nhất về sự phá sản của chiến lược "chiến tranh cục bộ của Mỹ". Rõ ràng, chiến thắng Mậu Thân đã làm cho ý chí xâm lược của Mỹ lung lay nghiêm trọng, khởi đầu cho một quá trình đi xuống về chiến lược của Mỹ.
Anh Trịnh Ngọc Thái nói tiếp: Hội nghị Pa-ri gồm hai giai đoạn: Giai đoạn một, là cuộc đàm phán hai bên giữa Việt Nam Dân chủ cộng hòa và Mỹ kéo dài từ 13 tháng 5 đến 31 tháng 10 năm 1968. Giai đoạn hai, là cuộc đàm phán bốn bên gồm Mỹ, Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và chính quyền Sài Gòn từ ngày 25 tháng 1 năm 1969 đến ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Năm 1972, là năm căng thẳng nhất trên chiến trường cũng như trên bàn đàm phán. Bộ Chính trị theo dõi rất sát tình hình chiến trường cũng như Hội nghị Pa-ri để chỉ đạo phối hợp giữa đánh và đàm, cân nhắc thế trận lúc này giữa ta và địch ở Quảng Trị.
Do vậy, mối quan hệ giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao, giữa chiến trường và bàn đàm phán càng khiến cho trận chiến Quảng Trị trở nên khốc liệt và đẫm máu.
Sau chiến dịch Trị Thiên năm 1972, tại Pa-ri, Kít-sinh-giơ có nói với đồng chí Lê Đức Thọ, đại ý: Nếu chỉ đứng về mặt quân sự mà xét thì không ai đánh nhau để giữ một cái thành cổ như vậy. Trả lời Kít-sinh-giơ, đồng chí Lê Đức Thọ cho rằng: Đó là vấn đề chính trị, đánh để giành thế mạnh chính trị trong đàm phán.
Vấn đề gay cấn chủ yếu đang giằng co trên bàn đàm phán là vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam và vấn đề quân đội miền Bắc ở miền Nam Việt Nam. Cuộc đàm phán đang ở thời điểm cuối cùng của cuộc vận động bầu cử tổng thống ở Mỹ. Bộ Chính trị chủ trương muốn đẩy nhanh cuộc đàm phán Pa-ri đi đến ký kết được trước tháng 11 năm 1972 (tức là trước cuộc bầu cử tổng thống Mỹ), ta cần tập trung quyết đạt cho được mục tiêu thứ nhất lúc này là "đánh cho Mỹ cút". Đạt được mục tiêu thứ nhất sẽ tạo điều kiện để hoàn thành mục tiêu thứ hai "đánh cho ngụy nhào". Để đạt được mục tiêu thứ nhất phải làm cho được hai yêu cầu: - Buộc quân Mỹ và quân chư hầu rút ra khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt chiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. - Lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam đóng nguyên tại chỗ. Dứt khoát quân đội miền Bắc không rút đi đâu hết. Tuyệt đối không có vấn đề tập kết rút quân như Hiệp định Giơ-ne vơ năm 1954.
Đạt được mục tiêu này sẽ tạo điều kiện thực hiện mục tiêu thứ hai. Ta tạm thời hạ thấp yêu cầu về chính trị ở miền Nam Việt Nam, không đòi lật đổ ngụy quyền Sài Gòn.
Đây là sự chỉ đạo chiến lược hết sức nhạy bén của Bộ Chính trị, kết hợp tài tình giữa đánh và đàm, giữa chiến trường và bàn đàm phán. Một nghệ thuật chiến thuật phù hợp với tình hình thực tế trên chiến trường, nới lỏng vấn đề chính trị để đạt mục tiêu chiến lược và thắng lợi cuối cùng.
Từ ngày 9 đến ngày 13 tháng 10 năm 1972 cuộc đàm phán đi vào thực chất các điều khoản cụ thể của hiệp định. Mỹ chấp nhận rút hết quân, thừa nhận trên thực tế ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị. 2 giờ sáng ngày 12 tháng 10 năm 1972, cuộc họp tạm ngừng với thỏa thuận coi như Hiệp định cơ bản đã hoàn thành. Hai bên dự kiến ngày 18 tháng 10 năm 1972, Kít-sinh-giơ gặp đồng chí Xuân Thủy để giải quyết nết các vấn đề còn lại và rà soát văn bản. Ngày 24 tháng 10 năm 1972, Kít-sinh-giơ gặp đồng chí Lê Đức Thọ ở Hà Nội và ngày 31 tháng 10 năm 1972, ký Hiệp định ở Pa-ri. Ngày 20 tháng 10 năm 1972, tổng thống Mỹ Ních-xơn đã gửi công hàm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng xác nhận văn bản hiệp định đã hoàn thành. Nhưng đột nhiên 15 giờ ngày 23 tháng 10 năm 1972, tổng thống Mỹ Ních-xơn lại thông báo cho ta là có việc khẩn cấp và Mỹ "đang gặp khó khăn", đề nghị có một cuộc gặp riêng nữa và hoãn chuyến đi Hà Nội của Kít-sinh-giơ. Phía Mỹ giải thích rằng tình hình đó là do Nguyễn Văn Thiệu - tổng thống Việt Nam cộng hòa (chính quyền ngụy) không đồng ý và yêu cầu sửa lại 69 điểm trong dự thảo Hiệp định đã thỏa thuận.
Ta lên án sự lật lọng của Mỹ và kiên quyết bác bỏ thông báo đó. Sự thật, đó chỉ là cái cớ để Mỹ che giấu thái độ lật lọng của mình. Trong hồi ký của Kít-sinh-giơ, ông ta kể rằng Ních-xơn nói với ông ta như sau: Nếu Thiệu không biết điều thì... không phải cái đuôi chó lại có thể quẫy được con chó.
Đây chẳng qua là cái cớ nhằm thực hiện âm mưu kéo dài đàm phán để vượt qua bầu cử Tổng thống ở Mỹ. Cũng vào thời điểm này, chính quyền Ních-xơn lập cầu hàng không, tiếp tế ồ ạt vũ khí, thiết bị chiến tranh cho chính quyền và quân đội Sài Gòn.
Đúng 19 giờ 40 phút ngày 18 tháng 12 năm 1972, Mỹ mở cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B.52 xuống Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác. Đợt tập kích kéo dài đến ngày 29 tháng 12 năm 1972. Suốt 12 ngày đêm, không quân Mỹ huy động hàng trăm máy bay B.52, hàng nghìn máy bay chiến đấu ném bom bừa bãi, đánh phá ồ ạt gây nhiều thiệt hại về người và của cho nhân dân ta.
Quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích đường không của Mỹ, lập nên một "Điện Biên Phủ trên không" oai hùng, bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 pháo đài bay B.52, bắt sống giặc lái Mỹ. Cuộc tập kích chiến lược đường không đánh vào Hà Nội, Hải Phòng nhằm gây sức ép mạnh mẽ với ta trên bàn đàm phán bị thất bại. Mỹ không dám ngẩng mặt nhìn thẳng chúng ta. Bị thất bại nặng nề trên cả hai chiến trường miền Nam và miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là thất bại trong cuộc tập kích chiến lược bằng không quân 12 ngày cuối năm 1972, chính quyền Mỹ bị sức ép rất mạnh của nhân dân Mỹ và dư luận thế giới.
Ngày 30 tháng 12 năm 1972, Ních xơn buộc phải tuyên bố trở lại tình trạng trước ngày 18 tháng 12 năm 1972, (nghĩa là ngừng ném bom bắn phá từ vĩ tuyến 20 trở ra) từ 7 giờ ngày 30 tháng 12 năm 1972, để có thể tiếp tục trở lại nói chuyện ở. Hội nghị Pa-ri.
Cuộc gặp riêng giữa đồng chí Lê Đức Thọ và Kít- sinh-giơ được nối lại từ ngày 8 tháng 1 năm 1973.
Đứng trên thế thắng, ta kiên trì đấu tranh giữ vững nội dung cơ bản của dự thảo hiệp định đã được thỏa thuận ngày 20 tháng 10 năm 1972.
Lần gặp này, Kít-sinh-giơ đã phải hạ giọng, thừa nhận một sự thật là ở miền Nam có hai vùng kiểm soát, hai chính quyền, hai quân đội và ba lực lượng chính trị.
Ngày 12 và 13 tháng 1 năm 1973, Hiệp định được ký tắt giữa đồng chí Lê Đức Thọ và Kít-sinh- giơ. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định được ký chính thức giữa các bộ trưởng ngoại giao của các bên tham dự Hội nghị Pa-ri. Hiệp định bắt đầu có hiệu lực từ 7 giờ ngày 28 tháng 1 năm 1973.
Nội dung của Hiệp định đạt đủ bốn yêu cầu cơ bản mà ta đã đề ra từ trước: - Mỹ phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
- Mỹ phải rút hết quân Mỹ và chư hầu, phá hủy các căn cứ quân sự của Mỹ, cam kết sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, để cho nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình.
- Chính phủ Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, thừa nhận sự tồn tại và địa vị hợp pháp của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
- Mỹ phải bồi thường chiến tranh.
Điều Mỹ cay cú nhất là họ phải thừa nhận quân đội miền Bắc không rút khỏi miền Nam, thừa nhận sự tồn tại và địa vị hợp pháp của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Ngày 2 tháng 3 năm 1973, mười hai đoàn đại biểu các chính phủ: Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc, ngụy quyền Sài Gòn và bốn nước trong ủy ban kiểm soát và giám sát việc thi hành Hiệp định Pa-ri đã họp một hội nghị quốc tế về vấn đề Việt Nam. Hội nghị đã đề ra một bản Định ước (Ba Lan) ghi nhận và bảo đảm Hiệp định và các nghị định thư về Việt Nam được thi hành nghiêm chỉnh và triệt để. Định ước này đánh dấu một bước thụt lùi nữa của Mỹ, vì không phải chỉ có Mỹ mà cả quốc tế cũng công nhận có chính quyền cách mạng ở miền Nam Việt Nam và việc kết thúc chiến tranh ở Việt Nam không chỉ là yêu cầu của Việt Nam mà còn là yêu cầu của cả thế giới.
Từ xưa tới nay, chưa bao giờ việc ký kết một văn kiện về quyền dân tộc cơ bản của nhân dân một nước lại được các dân tộc và nhân dân thế giới theo dõi chăm chú, trang trọng như Hiệp định Pa-ri "về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam".
Đây cũng là kết quả của một cuộc đàm phán kéo dài nhất trong thế kỷ 20, với 4 năm 9 tháng, trong đó có 202 phiên họp công khai, 24 cuộc tiếp xúc riêng.
Hiệp định Pa-ri được ký kết là thắng lợi của cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào và chiến sĩ cả nước. Sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước đầy gian khổ hy sinh và vô cùng vẻ vang của nhân dân ta đã thu được những kết quả cơ bản có ý nghĩa rất sâu sắc và rộng lớn.
Với thắng lợi ký kết Hiệp đinh Pa-ri về Việt Nam, cách mạng miền Nam nước ta bước vào một giai đoạn mới, một cục diện mới đã xuất hiện ở miền Nam, một sự thay đổi hết sức quan trọng về so sánh lực lượng, thế và lực của cách mạng đã hơn hẳn thế và lực của địch. Cục diện này tạo ra những điều kiện rất thuận lợi để nhân dân ta ở miền Nam tiếp tục tiến lên hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc và dân chủ.
|
|
|
Thắng lợi này cũng chứng minh một chân lý là thắng lợi trên chiến trường quyết định thắng lợi trên bàn đàm phán, và thắng lợi trên bàn đàm phán cổ vũ và phát huy thắng lợi trên chiến trường.
Ngày 29 tháng 3 năm 1973, đất nước ta sạch bóng quân Mỹ. Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ phải cuốn cờ các đơn vị cuối cùng của Mỹ và các nước chư hầu rút hết khỏi miền Nam Việt Nam.
Việc quân đội viễn chinh Mỹ và quân đội các nước chư hầu của Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam đã chấm dứt sự có mặt của quân đội xâm lược trên đất nước ta sau 115 năm kể từ năm 1858 khi quân đội thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta. So sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam ngày càng thay đổi có lợi cho ta, ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn thêm hoang mang. Đó là điều kiện hết sức thuận lợi cho ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
Giữa năm 1973, hầu hết tỉnh Quảng Trị được giải phóng, nối liền với hậu phương lớn miền Bắc.
Tĩnh hình cách mạng miền Nam phát triển hết sức thuận lợi. Việc xây dựng một trụ sở làm việc của Chính phủ Cách mạng lâm thời ở một vùng giải phóng để làm trung tâm đầu não của cách mạng miền Nam, thực hiện thuận lợi các hoạt động ngoại giao, đồng thời để các Đại sứ bên cạnh Chính phủ Cách mạng lâm thời đến trình quốc thư hoặc làm việc đã được đặt ra cấp thiết. Chính vì thế, ngay sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, ta chọn thị trấn Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị để xây dựng một trụ sở làm việc của Chính phủ Cách mạng lâm thời.
Mặc dầu Cam Lộ lúc đó vẫn còn nằm trong tầm pháo của địch, nhưng ngược lại địch cũng nằm trong tầm pháo của ta. Điều đó nói lên thế của ta trên chiến trường đã hoàn toàn chủ động.
Khu trụ sở Chính phủ Cách mạng lâm thời được khởi công xây dựng từ ngày 6 tháng 5 năm 1973 đến ngày 30 tháng 5 năm 1973 thì hoàn thành. Tôi được biết, toàn bộ thiết kế nguyên vật liệu, thợ lắp ráp cộng trình đều được đưa từ Hà Nội vào. Khu trụ sở Chính phủ quay về hướng đông chia làm hai khu: Khu A và Khu B.
Khu A, gồm ba dãy nhà làm thành một cụm, nhà làm việc của Chính phủ, nhà khách, nơi trình quốc thư của các đại sứ.
Khu B, có ba dãy nhà nằm song song có kết cấu giống nhau nằm đối diện với cổng phụ B, là nơi làm việc của các nhân viên, cán bộ của Chính phủ, nơi ở và làm việc của các phóng viên báo chí.
Kết cấu của các khu nhà trụ sở Chính phủ theo kiểu nhà lắp ghép, mái nhọn, vì kèo bằng sắt, lợp tôn, trần và vách bằng gỗ. Mặc dù được xây dựng khẩn trương trong một thời gian ngắn, điều kiện thi công khó khăn nhưng khu trụ sở vẫn mang dáng vẻ bề thế khang trang với đầy đủ tiện nghi sinh hoạt thiết yếu: điện, nước máy, vườn hoa, cây cảnh... Đặc biệt khu nhà tiếp khách của Chính phủ rất trang nhã và lịch sự, được phân bố hài hòa giữa các dãy nhà thoáng đẹp, trong khuôn viên có nhiều loại cây cổ thụ và cây cảnh, đặc biệt là hàng dừa biểu tượng sức sống quật cường của nhân dân miền Nam.
Tại đây ngày 6 tháng 6 năm 1973, Chính phủ Cách mạng lâm thời đã làm lễ ra mắt nhân dân trong buổi lễ mít tinh trọng thể, trước sự chứng kiến của đông đảo phóng viên báo chí trong nước và nước ngoài. Đại biểu của 19 nước anh em bầu bạn khắp năm châu đã tới dự. Đại sứ của các nước đã làm lễ trình quốc thư...
Khu trụ sở Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được xây dựng tại Cam Lộ tỉnh Quảng Trị trở thành biểu tượng cho tình cảm, khát vọng và lòng quyết tâm của nhân dân miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà. Lần đầu tiên trong vùng giải phóng, Chính phủ Cách mạng lâm thời đã có trụ sở chính thức để làm việc, đặt quan hệ ngoại giao với tất cả các nước trên thế giới, đại diện cho nhân dân miền Nam nói lên tiếng nói của mình.
Chính phủ Cách mạng lâm thời đã đón hàng chục đoàn khách quốc tế. Đặc biệt ngày 15 tháng 9 năm 1973, Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô đã đến thăm vùng giải phóng Quảng Trị. Thay mặt ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, ông Trần Nam Trung, Phó Chủ tịch Đoàn chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã nồng nhiệt đón Chủ tịch Phi-đen. Dự buổi tiếp còn có ông Hoàng Bích Sơn - Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ông Lê Xích - Chủ tịch ủy ban Mặt trận giải phóng tỉnh Quảng Trị, ông Lê San - Chủ tịch ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Quảng Trị, ông Võ Anh Tuấn, Đại sứ Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Cu Ba và nhiều cán bộ cao cấp của Mặt trận Dân tộc giải phóng, Chính phủ và các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam.
Chủ tịch Phi-đen cùng các vị trong đoàn đã đến thăm thị trấn Đông Hà, một số nơi đã ghi đậm chiến công oanh liệt của quân và dân ta trong năm 1972. Chủ tịch và các vị cùng đi đã tham dự cuộc mít tinh của hàng nghìn người dân Quảng Trị. Tại cuộc mít tinh ông Trần Nam Trung đã đọc lời chào mừng Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô và các vị khách quý Cu Ba. Sau khi nhắc lại quá trình chiến đấu chống Mỹ, cứu nước vô cùng oanh liệt của nhân dân miền Nam và nhân dân cả nước Việt Nam đưa đến việc ký kết Hiệp định Pa-ri, buộc Mỹ phải chấm dứt vũ trang xâm lược, phải rút hết quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, ông Trần Nam Trung nói lên sự kính phục của nhân dân miền Nam Việt Nam đối với tinh thần cách mạng chống Mỹ của nhân dân Cu Ba anh hùng. ông ca ngợi tinh thần lao động hăng say của nhân dân Cu Ba, đã đạt được những thành tích to lớn trong công cuộc xây dựng nước Cu Ba xã hội chủ nghĩa. ông Trần Nam Trung nhấn mạnh đến tinh thần đoàn kết chiến đấu và sự giúp đỡ hết lòng của Chính phủ và nhân dân Cu Ba đối với cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của nhân dân miền Nam Việt Nam. ông cũng nói lên sự biết ơn của Chính phủ và nhân dân miền Nam Việt Nam với sự kiện Cu Ba là nước đầu tiên công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam... Trong lời đáp, Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô ca ngợi lịch sử đấu tranh oanh liệt chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Chủ tịch đánh giá cao thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam và nhấn mạnh rằng: "Nhân dân miền Nam Việt Nam đã nêu một tấm gương tuyệt vời cho cả nhân loại, cho tất cả các dân tộc đang đấu tranh để tự giải phóng". Chủ tịch Phi đen Ca-xtơ-rô tỏ ý tin tưởng rằng nhân dân miền Nam Việt Nam sẽ phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng nhất định sẽ hoàn thành những nhiệm vụ to lớn của mình trong giai đoạn đấu tranh mới.
Chủ tịch nói tiếp: "Thắng lợi của các bạn ở Quảng Trị và ở trên toàn miền Nam thật là tuyệt vời Thắng lợi đó đã buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc, rút hết quân Mỹ khỏi miền Nam, ký Hiệp định Pa-ri. Người đánh bại Mỹ chính là những người Việt Nam bình thường mà chúng tôi đã gặp trên đường. Chính những con người bình dị đó không hề chịu khuất phục trước bất cứ một loại vũ khí nào, một sức mạnh nào. Đó là những con người tiêu biểu cho một dân tộc được giáo dục về lòng yêu nước trong tinh thần cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đào tạo rèn luyện... Một nghìn năm, hai nghìn năm, mười nghìn năm qua đi, nhưng các thế hệ sau này vẫn còn nhắc đến chủ nghĩa anh hùng Việt Nam"...
Ngày 20 tháng 12 năm. 1973, tôi được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trong lời tuyên dương có đoạn: "Từ năm 1968 đến tháng 6 năm 1972, đồng chí Nguyễn Huy Hiệu chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị.
Trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ trung đoàn, ở cương vị nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nguyễn Huy Hiệu đã đánh 67 trận, diệt 63 tên địch (có hàng chục tên Mỹ), phá huỷ 3 súng đại liên, thu 15 súng AR15, một máy vô tuyến, một số bản đồ quân sự. Chỉ huy đơn vị diệt gần 600 tên Mỹ, gần 2 nghìn tên ngụy, bắt 155 tù binh, phá hủy hơn 100 xe quân sự (có 39 xe tăng, xe bọc thép), chiếm nguyên vẹn một xe tăng M41, bắn rơi 57 máy bay các loại. Ba lần bị thương, đồng chí không rời trận địa, tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu đến khi trận đánh kết thúc. Đồng chí đã được tặng thưởng năm Huân chương chiến công Giải phóng (hai hạng Nhất, hai hạng Nhì, một hạng Ba), 14 danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt cơ giới và Dũng sĩ Quyết thắng, hai danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng và nhiều bằng, giấy khen khác...".
Hai mươi lăm tuổi, được bổ nhiệm làm trung đoàn phó, được tuyên dương danh hiệu Anh hùng, đó là một vinh dự rất lớn đối với tôi. Hôm nhận danh hiệu Anh hùng tôi đã khóc. Tôi nhớ đến hình ảnh của Đại đội trưởng Mai Xuân Tình, Chính trị viên đại đội Đặng Quang Hồng, Trung đội trưởng Phan Hữu Mỹ, Nguyễn Đình Cư... chiến sĩ Cao Như Thiêm, chiến sĩ B41 Phùng Văn Khoét, Trung đoàn trưởng Cao Uy... và biết bao nhiêu cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 27 - Mặt trận B5 thân yêu của tôi ngã xuống vì độc lập tự do cửa Tổ quốc. Nhờ họ tôi mới có được vinh quang này.
Tôi thầm hứa với các liệt sĩ sẽ tiếp tục chiến đấu thực hiện lời Bác Hồ kính yêu: "Đánh cho ngụy nhào" giải phóng miền Nam thống nhất đất nước để xứng đáng với sự hy sinh của các anh. Tôi sẽ không bao giờ quên các anh, quên một thời Quảng Trị máu lửa và cũng rất anh hùng. Hình ảnh các anh sẽ sống mãi trong ký ức của tôi.
|
|